Hỏi về hành vi lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Ngày gửi: 12/02/2018 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL41306

Câu hỏi:

Kính gửi công ty Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam,  Tôi có 2 vấn đề mong được công ty tư vấn. Tôi xin được tóm tắt vấn đề như sau: 1. A và B cùng hợp tác kinh doanh, nhưng sau đó A phát hiện B đã dùng số tiền (gần 90 triệu) của A để đầu tư việc khác không như ban đầu đã định và thất bại. A có thể kiện B được không? Nếu được thì sẽ kiện với tội danh gì? Do A và B chỉ liên lạc với nhau qua facebook và SMS. vậy facebook và SMS có thể dùng làm bằng chứng được không. 2. A đứng tên vay hộ B 1 khoản tiền với mục đích bù vào khoản tiền mà B đã dùng của công ty B hứa 4 tháng sau sẽ trả hết nhưng sau đó B đã không trả hết mà chỉ trả số tiền định kỳ hàng tháng mà ngân hàng quy định nhưng không đều đặn. A có thể kiện B được không? Nếu B đã sử dụng số tiền vay không đúng với mục đích B đã trình bày lúc mượn mà A không có bằng chứng thì có thể kiện được không và với tội danh gì.?

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

1. Đối với trường hợp đầu tiên, A hoàn toàn có thể kiện B về hành vi: Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Căn cứ theo Điều 140 Bộ Luật Hình sự:

“Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này”.

Mặc dù A và B chỉ liên lạc với nhau qua facebook, sms điện thoại và không có biên bản thỏa thuận về việc góp vốn. Tuy nhiên, những tin nhắn qua facebook và sms điện thoại đều có thể xem xét là chứng cứ pháp lý chứng minh việc A và B cùng hợp tác kinh doanh. Ngoài những yếu tố trên, A cũng nên thu thập những chứng cứ như: Chứng từ giao dịch ngân hàng hoặc biên bản giao nhận tiền giữa A và B để chứng minh B đã nhận số tiền 90 triệu với mục đích hợp tác kinh doanh, nhưng đã sử dụng tiền sai mục đích dẫn đến hậu quả việc làm mất toàn bộ số tiền.

Lợi dụng Facebook để chiếm đoạt tài sản

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 024.6294.9155

2. Để xem xét việc A có thể khởi kiện B hay không thì cần xem xét lại thỏa thuận đứng tên vay hộ số tiền giữa A và B. Pháp luật không ghi nhận việc một người đứng tên vay tiền hộ người khác, nên việc A đứng ra vay tiền từ phía ngân hàng thì A sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ đã kí kết với ngân hàng. Tuy nhiên, cũng cần xem xét vấn đề A và B có giao kết một hợp đồng vay tiền sau khi A đã thực hiện vay tiền ở ngân hàng. Nếu A và B có giao kết một hợp đồng vay tiền và A có đầy đủ những căn cứ chứng minh B đã trả nợ không đúng hạn và sử dụng số tiền vay ban đầu không đúng với mục đích đã trình bày với A dẫn đến tình trạng không thể trả nợ thì A có thể kiện B về hành vi: Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản căn cứ Điều 140 Bộ Luật Hình sự.

Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì liên quan đến sự việc bạn có thể liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 024.6294.9155 để được giải đáp.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH