Hành vi giữ văn bằng, chứng chỉ của người lao động

Ngày gửi: 12/02/2018 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL37174

Câu hỏi:

Em đã gửi đơn lên phòng Lao động thương binh xã hội quận nơi công ty em đang làm đăng ký giấy phép kinh doanh để xin lấy lại bằng cao đẳng gốc của em đang bị công ty tạm giữ do khi ký hợp đồng lao động công ty của em không những không chịu trả bằng gốc. Nhưng khi yêu cầu trả lại văn bằng thì giám đốc còn xông lên đòi đánh em nhưng có trưởng phòng nhân sự ngăn cản kịp thời. Giám đốc còn nói: “chừng nào em nghỉ việc mới trả lại bằng, nhưng em chưa hết hạn hợp đồng và em có xin nghỉ việc nhưng giám đốc không ký đơn”. Vậy giờ em phải làm như thế nào  để lấy lại bằng và để được nghỉ việc.

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Về việc giữ văn bằng, chứng chỉ người lao động:

Theo quy định Điều 20 Bộ luật lao động 2012 những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động:

"1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động."

Như vậy, việc giữ giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động là một hành vi cấm theo quy định của pháp luật lao động. Nếu người lao động có hành vi thì sẽ bị xử phạt theo điểm a, khoản 2 Điều 5 Nghị định 88/2015/NĐ-CP:

"2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động;"

Bạn có thể gửi đơn yêu cầu lên chính công ty yêu cầu trả lại đơn yêu cầu. Nếu công ty không trả thì bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi giữ văn bằng, chứng chỉ gốc của người lao động gửi lên Phòng thương binh lao động xã hội nơi công ty có trụ sở để yêu cầu giải quyết cho trường hợp của bạn.

Về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

Theo Điều 37 Bộ luật lao động quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động:

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 024.6294.9155

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Như vậy,

– Nếu hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng sau khi báo trước cho người sử dụng lao động trước ít nhất 45 ngày.

– Nếu hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì bạn phải báo trước cho người lao động theo khoảng thời gian như sau:

+ Ít nhất 30 ngày với lý do đơn phương chấm dứt:

Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước

+ Ít nhất 3 ngày với lý do đơn phương chấm dứt:

Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

 Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

– Nếu hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng lao động mùa vụ thì bạn phải báo trước cho người lao động trước ít nhất 3 ngày làm việc và với lý do theo khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động trừ khoản 1 điểm e Điều 37.

Thủ tục đăng ký bảo hiểm xã hội cho doanh nghiệp, người lao động

– Nếu bạn là lao động nữ mang thai thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định theo Điều 156 Bộ luật lao động.

Bạn có thể tham khảo thêm một số bài viết có liên quan khác của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam:

– Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động mang thai

– Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn

– Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì liên quan đến sự việc bạn có thể liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 024.6294.9155  để được giải đáp.

——————————————————–

THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam:

– Tư vấn luật lao động miễn phí qua điện thoại

– Tư vấn bảo hiểm xã hội trực tuyến miễn phí

– Tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam