Hành vi bán tài sản công ty để tư lợi cá nhân

Ngày gửi: 12/02/2018 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL41277

Câu hỏi:

Công ty tôi (A) là nhà phân phối sơn nước cho Công ty B.  Anh tiếp thị C là nhân viên của Công ty B hỗ trợ bán hàng cho NPP A chúng tôi. Trong năm 2014 Anh C đã thu tiền 05 công trình nhà mà anh C đã bán sơn nước và chiếm dụng không nộp về Công Ty A của tôi số tiền khoảng 70 triệu đồng. Sau đó chúng tôi phát hiện và Anh C đã thừa nhận và ký nhận nợ. Từ  tháng 10/2015 đến tháng 12/2015 Anh C lại thực hiện tương tự như vậy, và chiếm dụng số tiền trên 70 triệu đồng.Cho hỏi Anh C thuộc tội gì? Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Và số tiền đã chiếm dụng của tôi sẽ được xử lý như thế nào? Nếu có bản án, khi hết thời hạn của bản án mà Anh C chưa trả tiền cho tôi, thì Anh C có được xóa án không? Xin chân thành cám ơn

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Thứ nhất, theo như bạn trình bày thì việc anh C chiếm đoạt số tiền 70 triệu đồng trong năm 2014 và hơn 70 triệu đồng từ tháng 10/2015 đến tháng 12/2015 là việc làm được thực hiện độc lập, do chính bản thân anh C tự gây ra, không liên quan gì tới công ty B. Hành vi đó của anh C đã thỏa mãn các dấu hiệu để cấu thành tội phạm. Hành vi chiếm đoạt tài sản mà anh C thực hiện là lỗi cố ý, được C thực hiện bằng việc bán sơn nước cho công ty A nhưng lại chiếm dụng không nộp tiền về cho công ty. Việc làm đó tuy đã bị phát hiện nhưng anh C không hề sửa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi tương tự, tổng số tiền 2 lần anh C chiếm dụng của công ty A lên đến hơn 140 triệu đồng. Việc làm đó của anh C đã xâm phạm nghiêm trọng đến tài sản của công ty A.

Do đó, anh C sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản như sau:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.”

Thứ hai, ngoài việc anh C phải chịu án phạt tù theo quy định của Bộ luật hình sự, thì phần giải quyết tài sản sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật dân sự. Theo Điều 225 Bộ luật dân sự năm 2005 thì:

“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật.”

Trong trường hợp này, anh C đã chiếm dụng số tiền hơn 140 triệu đồng từ tiền bán sơn của công ty A , do đó mà công ty A có quyền yêu cầu Tòa án buộc anh C phải trả lại số tiền đó.

 

Thứ ba, về việc xóa án tích thì tại Điều 67 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1.Thời hạn để xoá án tích quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

2. Nếu chưa được xoá án tích mà phạm tội mới, thì thời hạn để xoá án tích cũ tính từ ngày chấp hành xong bản án mới.

3. Việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.

4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.”

Như vậy, ngoài việc chấp hành hình phạt chính, anh C còn phải chủ động tự giác chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung và các quyết định khác trong bản án. Đây vừa là nghĩa vụ nhưng đồng thời cũng là quyền lợi bởi nếu anh C không chấp hành thì sẽ không được xem xét để xóa án tích bất luận vì lý do gì.

Bạn có thể tham khảo thêm một số bài viết có liên quan khác của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam:

– Xử lý hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

– Tố giác hành vi lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

– Hành vi lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì liên quan đến sự việc bạn có thể liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 024.6294.9155  để được giải đáp.

——————————————————–

– Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại

– Dịch vụ tư vấn pháp luật hình sự

– Tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam