Hàng thừa kế theo pháp luật? Hàng thừa kế thứ nhất gồm những ai?

Ngày gửi: 12/09/2020 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL42227

Câu hỏi:

Ông bà nội tôi có 10 người con và có tài sản là 10.000m2 đất nông nghiệp. Năm 2011, ông nội tôi chết. Gia đình gồm bà nội tôi và 10 người con này đã họp gia đình thống nhất phân chia phần tài sản này như sau: – Chú thứ 3 của tôi được nhận 4.000m2; – Cô út tôi nhận được 4.000m2; – Tôi là cháu nội được nhận 2.000m2. Những người còn lại đều thống nhất với cách phân chia trên. Do tôi thuộc hàng thừa kế thứ 2. Như vậy tôi có được nhận thừa kế theo thỏa thuận trên hay không?

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Cùng với sự phát triển của xã hội, các mối quan hệ trong dân sự ngày càng được mở rộng đòi hỏi pháp luật cần có những quy định điều chỉnh ngày càng chặt chẽ. Hiện nay, Hiến pháp năm 2013 không chỉ ghi nhận và điều chỉnh quan hệ về tài sản mà còn công nhận quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của chủ sở hữu tài sản. Xuất phát từ việc pháp luật tôn trọng quyền của người chết định đoạt với những tài sản của họ có được khi còn sống nên người nhận di sản không bắt buộc là người trong hàng thừa kế.

Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho những người có mối quan hệ gắn bó, thân thích của người để lại di sản khi người chết không có di chúc hay di chúc không phù hợp pháp luật đồng thời cũng ghi nhận hình thức thừa kế theo pháp luật. Và trong trường hợp này việc xác định được hàng thừa kế để chia di sản là một trong những nội dung mang tính chất quyết định.

Dưới đây là bài phân tích mới nhất của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam về hàng thừa kế theo pháp luật và hàng thừa kế thứ nhất theo quy định mới nhất năm 2021. Nếu còn bất cứ thắc mắc nào liên quan đến trường hợp này hoặc các vấn đề pháp luật thừa kế khác, vui lòng liên hệ: 024.6294.9155 để được tư vấn – hỗ trợ!

Vậy, hàng thừa kế theo pháp luật có thể được hiểu như thế nào và Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm có những ai? Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam sẽ cùng bạn tìm hiểu về vấn đề này theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thứ nhất, về quyền thừa kế theo quy định của pháp luật hiện hành.

Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2015, cá nhân có quyền hưởng di sản mà người đã chết để lại với hình thức thừa hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Việc chia thừa kế theo các hình thức này phụ thuộc vào việc người chết có hay không việc để lại di chúc cũng như hiệu lực của bản di chúc đó. Sở dĩ việc thừa kế theo di chúc được xem xét trước bởi bởi di chúc chính là sự thể hiện về ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp việc thừa kế đều được thực hiện theo di chúc mà  quyền định đoạt của người lập di chúc còn bị hạn chế trong những trường hợp luật định. Chẳng hạn như trong các trường hợp sau:

– Di chúc không được pháp luật thừa nhận do không đảm bảo tính hợp pháp.

– Những người thừa kế được người để lại di sản cho hưởng di sản nhưng bản thân họ lại không có quyền hưởng hoặc chính họ từ chối không nhận di sản.

Thứ hai, xác định về hàng thừa kế theo quy định của pháp luật.

Như ở trên đã đề cập, mọi cá nhân đều có quyền được hưởng thừa kế từ di sản mà người thân của họ để lại. Tuy nhiên không phải tất cả những người ở trong diện thừa kế đều được thừa kế cùng một lúc. Pháp luật quy định những người có quan hệ gần gũi, huyết thống với người để lại di sản thành những hàng thừa kế để hưởng di sản theo thứ tự. Những người thừa kế trong cùng một hàng đều có quyền được hưởng thừa kế như nhau.

– Những người thân thuộc nhất với người chết được xếp vào hàng thừa kế đầu tiên, bao gồm vợ hoặc chồng của người chết, cha và mẹ (bao gồm cả cha, mẹ ruột và cha, mẹ nuôi), con (bao gồm con ruột và con nuôi).

– Những người trong diện thừa kế được xếp vào hàng thừa kế ưu tiên thứ hai bao gồm ông, bà của người chết (bao gồm cả ông và bà nội, ngoại), anh, chị, em ruột, cháu ruột (gọi người chết là ông, bà nội, ngoại).

– Những người thân thích được xếp vào hàng thứ ba hưởng thừa kế bao gồm cụ (bao gồm nội, ngoại), các bác, cậu, chú, cô dì (ruột), cháu ruột (gọi người chết là bác, chú, câu, cô, dì ruột), chắt ruột (gọi người chết là cụ nội, ngoại).

Về nguyên tắc, theo quy định thì hàng thừa kế thứ nhất là hàng thừa kế được hưởng di sản đầu tiên với toàn bộ di sản của người chết, chỉ khi ở hàng thừa kế này không còn ai đủ điều kiện để hưởng di sản pháp luật mới xét đến hàng thừa kế đứng sau.

Thứ ba, những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật.

Như ở trên đã đề cập, Bộ luật dân sự năm 2015 xác định ba hàng thừa kế tuy nhiên quyền thừa kế của những người ở hàng thừa kế thứ hai, thứ ba chỉ phát sinh khi không còn ai được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất nữa. Như vậy, những người được xác định thuộc hàng thừa kế thứ nhất đứng ở vị trí đặc biệt quan trọng.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, vợ hoặc chồng của người chết, cha mẹ (bao gồm cả cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi), con (gồm con ruột, con nuôi) được xếp vào vị trí hàng thừa kế đầu tiên. Cụ thể như sau:

Trong trường hợp này, chỉ khi nam nữ đã đăng ký kết hôn mới được ghi nhận là vợ chồng hợp pháp và đứng ở vị trí hàng thừa kế đầu tiên của người còn lại. Khi xác định việc thừa kế của người vợ hoặc người chồng của người đã chết cần phải lưu ý một số vấn đề theo quy định tại Điều 655 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

+ Người vợ (hoặc chồng) của người chết được hưởng thừa kế di sản của người còn lại kể cả tài sản đó là tài sản chung đã được thỏa thuận chia trong thời kỳ hôn nhân.

+ Vợ (hoặc chồng) của người chết vẫn được xếp hàng thừa kế đầu tiên ngay cả khi họ đã xin ly hôn với nhau. Ngay cả khi vấn đề ly hôn đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thì họ vẫn có quyền hưởng di sản của nhau trong trường hợp này.

+ Trong trường hợp người vợ (hoặc chồng) đã kết hôn với người khác nhưng vào thời điểm trước đó khi người chồng hoặc vợ cũ chết họ vẫn đang tồn tại quan hệ hôn nhân thì quyền thừa kế của họ vẫn được công nhận.

– Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ và con:

+ Có thể nói, quan hệ giữa cha mẹ và con cái là mối quan hệ thân thuộc, gần gũi nhất, cha mẹ đẻ với con đẻ đương nhiên là những người được hưởng thừa kế của nhau với vị trí hàng thừa kế đầu tiên. Con đẻ trong trường hợp này không chỉ là con trong giá thú mà còn bao gồm cả con ngoài giá thú, chỉ cần họ chứng minh được điều này.

+ Ngoài con đẻ, pháp luật cũng công nhận quyền thừa kế cho cha mẹ nuôi, con nuôi là hàng thừa kế thứ nhất. Tuy nhiên, điều này chỉ được ghi nhận nếu quan hệ giữa cha mẹ nuôi, con nuôi được thực hiện theo thủ tục quy định.

Nghĩa vụ tài sản của người thừa kế tài sản

– Quan hệ thừa kế giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế:

Theo quy định tại Điều 654 Bộ luật dân sự năm 2015, trong trường hợp nếu con riêng và bố dượng, mẹ kế có căn cứ chứng minh được giữa họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha, mẹ con thì họ cũng được ghi nhận quyền thừa kế như giữa cha, mẹ với con ruột. Và mặc nhiên, trong trường hợp này, họ cũng sẽ được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất của nhau để hưởng di sản.

Lưu ý:

Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ không có quyền được hưởng thừa kế nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

– Người này đã bị kết án do có thực hiện những hành vi nhằm cố ý tước đoạt mạng sống, sức khỏe hoặc ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm một cách nghiêm trọng đối với người để lại di sản.

– Tại thời điểm người để lại di sản còn sống thì người thừa kế này đã thực hiện những hành vi vi phạm nghiêm trọng trong việc nuôi dưỡng họ.

– Người thuộc hàng thừa kế thứ nhất nhưng đã bị kết án do cố ý thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của người thừa kế khác nhằm mục đích hưởng thêm phần di sản của họ.

– Người này đã thực hiện các hành vi nhằm mục đích hưởng di sản của người để lại di sản trái với ý nguyện của người chết thông qua việc lừa dối, ép buộc, ngăn cản không cho họ để lại di chúc hoặc lập di chúc giả, sửa chữa, hủy, che dấu di chúc của họ.

Thờ cúng liệt sĩ, thừa kế tài sản của liệt sĩ

1. Quy định của pháp luật về hàng thừa kế

Hàng thừa kế

1.Bản chất pháp luật về hàng thừa kế

Hàng thừa kế thứ nhất

Gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

– Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng và ngược lại:

Vợ sẽ được thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của chồng và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ coi là vợ chồng nếu hai bên nam nữ kết hôn hợp pháp. Đối với quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng cần lưu ý:

  • Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng thừa kế di sản.
  • Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng di sản thừa kế (khoản 2 Điều 680 BLDS 2005).
  • Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản (Khoản 3 Điều 680 BLDS 2005).
  • Đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày 13/1/1960 ở Miền Bắc, trước ngày 25/3/1977 ở Miền Nam, cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc (trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến 1975) lấy vợ, lấy chồng khác và kết hôn sau không bị Tòa án hủy bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này, người chồng, người vợ được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của tất cả những người chồng (vợ) và ngược lại.
  • Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

    Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

    Trân trọng cảm ơn.

    BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam