Đối tượng được thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân?

Ngày gửi: 17/11/2020 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL42285

Câu hỏi:

Đối tượng được thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân? Công ty, tổ chức có là đối tượng hưởng thừa kế trong pháp luật dân sự hay không?

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Cá nhân khi chết có quyền lập di chúc để có thể định đoạt tài sản của mình. Tài sản để lại của người có tài sản sẽ để cho người thừa kế theo pháp luật của mình, đối tượng thừa kế di chúc thì người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc. Vậy đối với trường hợp thừa kế theo pháp luật thì đối tượng thừa kế có thể là tổ chức không hay chỉ có thể là cá nhân. Trong bài viết dưới đây của công ty Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam chúng tôi sẽ giúp các bạn giải đáp vướng mắc này.

1. Người thừa kế theo quy định của pháp luật

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì quy định về người thừa kế như sau:

Điều 613. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Sau khi mở thừa kế, quyền và nghĩa vụ của người để lại thừa kế sẽ được chuyển cho những người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Người được hưởng các quyền và phải thi hành các nghĩa vụ đó gọi là người thừa kế. Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức, là người được chỉ định trong di chúc. Người thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ gia đình và người để lại di sản, do vậy người thừa kế theo pháp luật phải là cá nhân.

2. Trường hợp người thừa kế theo pháp luật là cá nhân theo quy định của pháp luật

Trường hợp người chết không có di chúc định đoạt tài sản của mình, thì di sản được chia theo một trình tự do pháp luật quy định. Pháp luật quy định những người được hưởng di sản phải là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản. Khi người có tài sản chết, mọi quan hệ pháp luật chấm dứt đối với người đó, nhưng sự kiện chết sẽ làm phát sinh những quan hệ phát luật khác. Kể từ thời điểm mở thừa kế, quan hệ pháp luật thừa kế được phát sinh. Những người thừa kế sẽ tham gia vào quan hệ này với tư cách là chủ thể, cho nên họ phải có năng lực chủ thể pháp luật quy định.

Tuy nhiên có những trường hợp pháp luật quy định khi phân chia di sản nếu người vợ góa đang mang thai, thì phải dành một phần để thai nhi được sinh ra và còn sống sẽ là người thừa kế của người chết và được hưởng phần di sản đó. Như vậy, nếu một người chưa thành thai vào thời điểm mở thừa kế nhưng sinh ra mà chết ngay thì không được hưởng di sản thừa kế.

Người thừa kế theo pháp luật phải có quan hệ gia đình với người để lại di sản, cho nên người thừa kế sinh ra còn sống và đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế thì mặc nhiên được coi là con hoặc là cháu của người đã chết. Theo khoản 1 điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Muốn xác định người con sinh ra sau khi bố chết đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế hay chưa, dung phương pháp suy đoán pháp lý là một thai nhi tồn tại tối đa khoảng 300 ngày khoản 1 điều 88 luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nếu con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế là con do người vợ đã có thai trong thời kỳ hôn nhân, cho nên là con chung của vợ chồng.

3. Người thừa kế là pháp nhân theo quy định của pháp luật

Người thừa kế theo di chúc là pháp nhân phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Pháp nhân bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các hợp tác xã. Theo nguyên tắc, quyền sở hữu tài sản được xác lập đối với người thừa kế kể từ thời điểm nhận di sản. Như vậy, quyền sở hữu được xác lập không phụ thuộc vào thời điểm di sản.

Tuy nhiên, trong thực tế, chỉ có thể xảy ra trường hợp là một cơ quan, tổ chức được chỉ định trong di chúc còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở di sản, thì phần di sản được chỉ định trong di chúc sẽ được xử lý như thế nào cũng là một trong những bất cập về pháp luật thừa kế hiện nay.

Theo quy định của pháp luật, pháp nhân được chỉ định trong di chúc còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì được hưởng di sản. Mặc dù khi chia thừa kế, pháp nhân không còn tồn tại, thì di sản vẫn thuộc về pháp nhân, điều này được áp dụng tương tự như đối với cá nhân.

Vì vậy di sản phải chia đều cho các thành viên của pháp nhân, thì sau khi pháp nhân giải thể, năng lực chủ thể chấm dứt, cho nên di sản không thể chia đều cho các thành viên. Bởi lẽ các thành viên không có tư cách chủ thể của pháp nhân được chỉ định, do đó tài sản không có chủ sở hữu sẽ thuộc Nhà nước. Trường hợp này, nếu có người thừa kế theo pháp luật mà không được hưởng di sản, thì quyền lợi của người thừa kế không được pháp luật bảo hộ, cho nên phải áp dụng tương tự như trường hợp di chúc không có giá trị vì không có người thừa kế theo di chúc và di sản được chia theo pháp luật.

4. Người thừa kế theo quy định của pháp luật

Theo điều 651 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cụ thể như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Diện thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di sản của người chết theo quy định của pháp luật. Diện những người thừa kế được xác định dựa trên ba mối quan hệ với người để lại di sản : hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng.

Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng trên cơ sở kết hôn hợp pháp ( theo các điều kiện do pháp luật quy định tại thời điểm kết hôn). Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng: Vợ, chồng sẽ được thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của nhau nếu vào thời điểm một bên chết mà quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý vẫn còn tồn tại. Đặc biệt cần lưu ý đối với các trường hợp cụ thể tại điều 655 bộ luật dân sự 2015, như sau: Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng thừa kế di sản. Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng di sản thừa kế.

Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày 13/1/1960 ở Miền Bắc, trước ngày 25/8/1977 ở Miền Nam, cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc (trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến 1975) lấy vợ, lấy chồng khác và kết hôn sau không bị Tòa án hủy bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp này vợ, chồng được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của tất cả những người chồng (vợ) và ngược lại. Trên cơ sở quan hệ huyết thống từ gần đến xa, pháp luật phân chia diện những người thừa kế thành các hàng thừa kế. Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và cha mẹ nuôi và con nuôi: Cha đẻ, mẹ đẻ của một người là người đã sinh ra người đó. Do vậy, cha mẹ của người con trong giá thú hoặc ngoài giá thú đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của con mình và ngược lại.Đối với quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi sẽ là hàng thừa kế thứ nhất của nhau nếu việc nhận nuôi được đăng ký theo quy định của pháp luật.

Hàng thừa kế thứ hai: Để xác định hàng thừa kế thứ hai cần làm rõ các khái niệm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại và anh chị em ruột. Cụ thể ông nội, bà nội là người đã sinh ra cha của một người; ông ngoại, bà ngoại là người đã sinh ra mẹ của người đó. Anh, chị, em ruột là những người có cùng ít nhất cha hoặc mẹ. Quan hệ này chỉ được xác định trên quan hệ huyết thống.

Hàng thừa kế thứ ba: Cụ nội là người đã sinh ra ông nội hoặc bà nôi của một người. Tương tụ cụ ngoại là người đã sinh ra ông ngoại hoặc bà ngoại của người đó. Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của một người là những anh, chị, em ruột của bố đẻ hoặc mẹ đẻ của người đó.

Từ việc xác định rõ các khái niệm trên việc xác định hàng thừa kế sẽ trở lên rõ ràng, đơn giản.Nguyên tắc và trình tự hưởng di sản đối với các hàng thừa kế.Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Nếu không coa ai là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ ba thì di sản sẽ thuộc về Nhà nước. Như vậy theo quy định của pháp luật thì đối tượng thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam