Bộ luật thừa kế năm 2020 mới nhất đang có hiệu lực thi hành

Ngày gửi: 26/08/2020 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL42241

Câu hỏi:

Các quy định của pháp luật về thừa kế? Bộ luật thừa kế mới nhất năm 2021? Luật thừa kế mới nhất 2021? Trích quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự? Cách gọi nào đúng? Bản chất thừa kế chỉ là 1 phần quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015!

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Có Bộ luật nào mang tên là Bộ luật thừa kế không? Xin thưa rằng KHÔNG

Các quy định về thừa kế chỉ là một phần trong quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Không có Luật, Bộ luật quy định chuyên biệt về thừa kế. Để tiện cho người có nhu cầu tham khảo, chúng tôi đã trích phần các quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự 2015 ra thành 01 bài viết riêng. 

Dưới đây là phần trích các quy định của pháp luật dân sự về thừa kế. Tạm gọi là “Luật thừa kế mới nhất 2021” để người xem dễ theo dõi. Nếu có bất cứ thắc mắc pháp lý nào về thừa kế cần giải đáp, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 024.6294.9155. Các Luật sư của chúng tôi luôn luôn sẵn sàng tư vấn – hỗ trợ ngay lập tức! 

Luật sư tư vấn luật thừa kế – Giải đáp các quy định của Bộ luật thừa kế mới nhất: 024.6294.9155

1. Quy định chung về thừa kế, di sản thừa kế

Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Điều 610. Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân

Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.

Điều 612. Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Điều 613. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 614. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Điều 615. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

Điều 616. Người quản lý di sản

Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra.

Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Điều 617. Nghĩa vụ của người quản lý di sản

Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:

a) Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;

c) Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;

d) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

đ) Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.

Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:

a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;

b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

c) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

d) Giao lại di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.

Điều 618. Quyền của người quản lý di sản

Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:

a) Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế;

b) Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế;

c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:

a) Được tiếp tục sử dụng di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;

b) Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế;

c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý.

Điều 619. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm

Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 của Bộ luật này.

Điều 620. Từ chối nhận di sản

Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Điều 622. Tài sản không có người nhận thừa kế

Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

2. Quy định về di chúc, thừa kế theo di chúc

Điều 624. Di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Điều 625. Người lập di chúc

Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Điều 626. Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có quyền sau đây:

Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Điều 627. Hình thức của di chúc

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Điều 628. Di chúc bằng văn bản

Di chúc bằng văn bản bao gồm:

Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

Di chúc bằng văn bản có công chứng;

Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Điều 629. Di chúc miệng

Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.

Điều 630. Di chúc hợp pháp

Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Điều 631. Nội dung của di chúc

Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản.

Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửa chữa.

Điều 632. Người làm chứng cho việc lập di chúc

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Điều 633. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này.

Điều 634. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.

Điều 635. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực

Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.

Điều 636. Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã

Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:

Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc;

Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Điều 637. Người không được công chứng, chứng thực di chúc

Công chứng viên, người có thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật;

Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

Điều 638. Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực

Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.

Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.

Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.

Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.

Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.

Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.

Điều 639. Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở

Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc.

Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng theo quy định tại Điều 636 của Bộ luật này.

Điều 640. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc

Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.

Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ.

Điều 641. Gửi giữ di chúc

Người lập di chúc có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ hoặc gửi người khác giữ bản di chúc.

Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ bản di chúc thì phải bảo quản, giữ gìn theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về công chứng.

Người giữ bản di chúc có nghĩa vụ sau đây:

a) Giữ bí mật nội dung di chúc;

b) Giữ gìn, bảo quản bản di chúc; nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại thì phải báo ngay cho người lập di chúc;

c) Giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc, khi người lập di chúc chết. Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của ít nhất hai người làm chứng.

Điều 642. Di chúc bị thất lạc, hư hại

Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.

Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.

Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.

Điều 643. Hiệu lực của di chúc

Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng

Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.

Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

Điều 646. Di tặng

Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc.

Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.

Điều 647. Công bố di chúc

Trường hợp di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc.

Trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc; nếu người để lại di chúc không chỉ định hoặc có chỉ định nhưng người được chỉ định từ chối công bố di chúc thì những người thừa kế còn lại thoả thuận cử người công bố di chúc.

Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc.

Người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của di chúc.

Trường hợp di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng hoặc chứng thực.

Điều 648. Giải thích nội dung di chúc

Trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trường hợp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực.

3. Quy định về hàng thừa kế, thừa kế theo pháp luật

Điều 649. Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Điều 653. Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ

Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này.

Điều 654. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.

Điều 655. Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung; vợ, chồng đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác

Trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

Trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.

4. Quy định về thanh toán và phân chia di sản

Điều 656. Họp mặt những người thừa kế

Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:

a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

b) Cách thức phân chia di sản.

Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.

Điều 657. Người phân chia di sản

Người phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thoả thuận cử ra.

Người phân chia di sản phải chia di sản theo đúng di chúc hoặc đúng thoả thuận của những người thừa kế theo pháp luật.

Người phân chia di sản được hưởng thù lao, nếu người để lại di sản cho phép trong di chúc hoặc những người thừa kế có thoả thuận.

Điều 658. Thứ tự ưu tiên thanh toán

Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;

Tiền cấp dưỡng còn thiếu;

Chi phí cho việc bảo quản di sản;

Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;

Tiền công lao động;

Tiền bồi thường thiệt hại;

Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước;

Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân;

Tiền phạt;

Các chi phí khác.

Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc

Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.

Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật

Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Điều 661. Hạn chế phân chia di sản

Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.

Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.

Điều 662. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế

Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

5. Các điểm mới của Luật thừa kế mới nhất 2021

Phần nghiên cứu dưới đây là của: PGS,TS Phùng Trung Tập – GV Trường Đại học Luật Hà Nội. Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam sưu tầm để bạn đọc cùng tham khảo!

Chế định về quyền thừa kế trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, được sửa đổi, bổ sung những điểm lớn, cơ bản để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường. Bên cạnh những quy định được sửa đổi, bổ sung thì cũng có những quy định trong BLDS năm 2005 về di chúc chung của vợ chồng không còn được quy định trong BLDS năm 2015.

So với số lượng các điều luật của chế định về quyền thừa kế trong BLDS năm 2005, thì BLDS năm 2015 giảm 3 điều quy định về di chúc chung của vợ chồng, gồm các Điều 663, Điều 664 và Điều 668 BLDS năm 2005.

Những điều được sửa đổi, bổ sung tại Phần Quy định chung

Tại Phần Quy định chung, Chương XXI, từ Điều 609 đến Điều 623 BLDS năm 2015, có sửa đổi, bổ sung một số điều so với BLDS năm 2005, cụ thể:

a/ Về quyền thừa kế, Điều 609 BLDS năm 2015 bổ sung đoạn hai về người thừa kế là các tổ chức, chủ thể khác ngoài cá nhân: “Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”. 

Điều 609 BLDS năm 2015 bổ sung quy định mới, người thừa kế không là cá nhân được thừa kế theo di chúc. Quy định mới này đã hoàn thiện hơn và nhằm nhấn mạnh quyền tự định đoạt của người lập di chúc có quyền chỉ định một tổ chức hưởng di sản của mình sau khi chết. Tên của Điều 609 BLDS năm 2015 đã có tính khái quát hơn về quy định quyền thừa kế, mà không áp đặt như tên gọi và nội dung của Điều 631 BLDS năm 2005. Điều 631 BLDS năm 2005 quy định về quyền thừa kế của cá nhân. Nếu xét về quyền của người thừa kế, thì người thừa kế là cá nhân có thể được thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, nhưng quyền của người lập di chúc còn là quyền định đoạt tài sản của mình theo di chúc cho chủ thể khác ngoài cá nhân như Nhà nước, các tổ chức khác. Tên gọi và nội dung quy định tại Điều 609 BLDS năm 2015 đã điều chỉnh toàn diện quyền của người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. Quy định của điều luật nhằm tôn trọng và bảo đảm cho cá nhân, các tổ chức và Nhà nước có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc của người để lại di sản. Mặt khác, điều luật cũng bảo đảm cho cá nhân có quyền lập di chúc để tự định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ chủ thể nào mà không phụ thuộc vào việc chủ thể được chỉ định thừa kế theo di chúc có thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản thừa kế hay không.

b/ Điều 618 (Điều 640 BLDS năm 2005) quy định về quyền của người quản lý di sản, bổ sung điểm c khoản 2 và bổ sung khoản 3 (điểm c: “Được thanh toán chi phí bảo quản”; khoản 3: “Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý”. Quy định này rõ ràng hơn quy định tại Điều 638 BLDS năm 2005 về người quản lý di sản.

Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người quản lý di sản trong “Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản” (Khoản 2 Điều 616 BLDS năm 2015), Luật quy định người quản lý di sản được thanh toán chi phí bảo quản di sản. Từ thời điểm mở thừa kế, cho đến khi di sản thừa kế được chia cho những người thừa kế có quyền hưởng hoặc theo di chúc hoặc theo pháp luật là một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, việc quản lý di sản thừa kế chưa chia là thật sự cần thiết, tránh mất mát, hao hụt, hư hỏng. Vì vậy, nhằm bảo quản di sản thừa kế chưa chia, người quản lý di sản có thể tìm những giải pháp tốt nhất để bảo quản di sản, những giải pháp bảo quản di sản cần phải mua sắm vật liệu che mưa, che nắng, bảo quản tránh hư hỏng, hao hụt, tiêu hủy theo thời gian trong môi trường cụ thể hoặc phải thuê kho, thuê mặt bằng để tập kết và bảo quản di sản là những động sản, xây dựng hàng rào để bảo quản nhà cửa, bảo vệ vật nuôi, bảo quản cây trồng và những tài sản thuộc di sản thừa kế. Vì vậy, quy định cho người quản lý di sản được hoàn trả những chi phí bảo quản di sản, mà người quản lý di sản đã chi là hợp lý. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 618 BLDS năm 2015 thì lợi ích của người quản lý di sản được xác định dựa trên căn cứ: “Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế”. Khoản 3 Điều 618 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp không đạt được thỏa thuận với người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý”. “Một khoản thù lao hợp lý”phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng vụ việc để Tòa án có căn cứ quyết định. Tính hợp lý của khoản thù lao này phải dựa trên những căn cứ như: Loại tài sản, quy mô, giá trị, chủng loại tài sản, thời gian quản lý, thực trạng tài sản trong thời gian quản lý, tình hình an ninh, trật tự trong khu vực có tài sản là di sản thừa kế, tính phức tạp và mức độ phức tạp khi thực hiện việc quản lý di sản thừa kế mà người quản lý di sản phải thực hiện để bảo tồn tài sản… Với những cơ sở thực tế này, Tòa án xem xét và ấn định số tiền thù lao mà những người thừa kế có nghĩa vụ thanh toán cho người quản lý di sản. Khoản tiền thù lao trả cho người quản lý được trích ra từ di sản thừa kế.

c/ Tài sản không có người thừa kế: Điều 622 BLDS năm 2015 quy định về tài sản không có người nhận thừa kế: “Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước”. Quy định này tinh tế hơn vì không mang tính chất của một quy phạm mệnh lệnh như Điều 644 BLDS năm 2005: “Tài sản không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước”. 

Điều 622 BLDS năm 2015 đã dự liệu trường hợp di sản thừa kế không có người nhận phát sinh trong trường hợp tất cả người thừa kế đều đã chết, đều từ chối quyền hưởng, đều không có quyền hưởng, đều bị truất quyền hưởng di sản mà không thuộc người được thừa kế không phụ thuộc vào di chúc theo quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015, những người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621, thì tài sản không có người thừa kế thuộc về Nhà nước. Nhà nước với tư cách chủ thể tiếp nhận tài sản vô chủ, Nhà nước không phải là người thừa kế.

d/ Thời hiệu thừa kế (Điều 623 BLDS năm 2015), quy định được sửa đổi hoàn toàn mới so với quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế tại Điều 645 BLDS năm 2005. Điều 623 quy định:

 “1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

Quy định về thời hiệu thừa kế tại Điều 623 BLDS năm 2015 nhằm bảo vệ quyền dân sự về tài sản của người thừa kế, không phụ thuộc vào thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định tại Điều 645 BLDS năm 2005. Nếu theo quy định tại Điều 645 BLDS năm 2005, thì quyền thừa kế của một hoặc nhiều chủ thể bị đình chỉ vì không khởi kiện trong thời hạn 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Quy định này đã làm hạn chế quyền dân sự của người thừa kế do hạn định về thời hiệu khởi kiện trong hạn 10 năm. Vì vậy, quy định tại Điều 623 BLDS năm 2015 về thời hiệu thừa kế là một quy định nhằm điều chỉnh hữu hiệu trong việc bảo đảm cho quyền dân sự được thực hiện chính đáng trong quan hệ thừa kế di sản. Những nét cơ bản của quy định này có thể xác định như sau:

Trước hết, trong hạn 30 năm, người thừa kế (theo di chúc và theo pháp luật) có quyền yêu cầu chia di sản là bất động sản; trong thời hạn 10 năm người thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản là động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, trong hạn 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản là di sản thừa kế chưa chia, thì những người thừa kế hợp pháp của người để lại di sản có quyền yêu cầu chia di sản. Tuy nhiên, trong thời hạn đã xác định, mà những người thừa kế không yêu cầu chia di sản, thì khi đó di sản thừa kế thuộc về người thừa kế đang quản lý.

Thứ hai, trường hợp không có người quản lý di sản thừa kế, thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu,trừ trường hợp Bộ luật này, các luật khác có liên quan quy định khác (Điều 326 BLDS năm 2015 – Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật).

Thứ ba, disản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 và theo quy tại Điều 236 BLDS năm 2015.

Thứ tư, theo quy định tại khoản 2 Điều 623 BLDS năm 2015, thì: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.  

Như vậy, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận tư cách chủ thể có quyền hưởng di sản, đồng thời trong thời hạn này, người thừa kế có quyền yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác. Thời hiệu 10 năm là điều kiện thời gian để người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật có quyền yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình là người có quyền hưởng di sản, còn việc chia di sản hay không chia di sản là tùy thuộc vào ý chí của người thừa kế trong thời hiệu thừa kế theo quy định tại Điều 623 BLDS năm 2015. Quyền thừa kế là quyền dân sự của cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, quyền thừa kế của chủ thể khác ngoài cá nhân được chỉ định thừa kế theo di chúc, có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế trong hạn 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thứ năm, theo quy định tại khoản 3 Điều 623 BLDS năm 2015 thì: “Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Quy định về quyền của các chủ nợ của người để lại di sản vẫn giữ thời hạn là 03 năm, như quy định tại đoạn 2 Điều 645 BLDS năm 2005.  

Thừa kế theo di chúc 

Chương XXII – BLDS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung khác với quy định trong BLDS năm 2005 về các điểm:

a/  Về người lập di chúc: Khoản 1,Điều 625 BLDS năm 2015khác với quy định tại Điều 647 BLDS năm 2005: “1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình”.

Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế là bấtkỳ ai, nếu việc lập di chúc của cá nhân tuân theo những quy định tại Điều 630 BLDS năm 2015 về di chúc hợp pháp.

b/ Hình thức của di chúc:Điều 627 BLDS năm 2015 đã được loại bỏ đoạn cuối quy định trường hợp rất riêng biệt là người dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc bằng tiếng nói của mình được quy định tại Điều 649 BLDS năm 2005. Việc loại bỏ quy định này trong BLDS là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì, cá nhân có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình là quyền của công dân được pháp luật bảo hộ, không cần thiết phải quy định trong BLDS. Hơn nữa, trong tố tụng dân sự, người dân tộc thiểu số có quyền tranh tụng bằng tiếng nói của dân tộc mình và thông qua hình thức có người phiên dịch. Quy định cá biệt này đã vô tình tạo ra sự phân biệt không cần thiết giữa những cá nhân thuộc các dân tộc khác nhau, có bản sắc và văn hóa dân tộc khác nhau. Hơn nữa, mọi công dân đều được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ dân sự bình đẳng với nhau trong một quan hệ pháp luật dân sự nhất định. Bản chất của quan hệ pháp luật dân sự về chủ thể không phân biệt thành phần dân tộc, địa vị xã hội, hoàn cảnh sống, trình độ chuyên môn, giới tính… khi thỏa mãn các điều kiện là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, thì đều có các quyền và nghĩa vụ dân sự ngang nhau.

c/ Di chúc miệng: Điều 629 BLDS năm 2015 quy định về di chúc miệng:

“1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ”.

Điều 629 BLDS năm 2015 bỏ quy định: “Do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác”, mà khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2005 quy định. Việc loại bỏ quy định này tạo ra một quy định ngắn gọn, chặt chẽ và dễ áp dụng hơn trong việc giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế theo di chúc miệng. Bởi vì, quy định: “Do bệnh tật và các nguyên nhân khác”, rất chung chung, khó xác định và có thể còn bị suy luận sai.

d/ Nội dung của di chúc: Điều 631 BLDS năm 2015 bỏ các chữ “bằng văn bản”; bỏ đoạn cuối điểm c khoản 1 Điều 653 BLDS nă m2005: “Hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản”; bỏ điểm đ khoản 1: “Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ”; bổ sung khoản 2 Điều 631: “2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác”; bổ sung đoạn cuối khoản 3: “Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa”.

Nội dung của di chúc thể hiện rõ việc thể hiện quyền tự định đoạt của người lập di chúc, cho nên không cần thiết phải cá biệt hóa các hình thức của di chúc. Việc loại bỏ các từ: “bằng văn bản”, để quy định chặt chẽ hơn, khái quát hơn về nội dung của di chúc. Bỏ quy định không phù hợp với hiệu lực của di chúc, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 653 BLDS năm 2005 là cần thiết. Bởi vì, người được chỉ định thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân, pháp nhân, các tổ chức khác là chủ thể có quyền hưởng di sản theo di chúc, mà không cần phải đặt điều kiện cho các chủ thể khác nhau được chỉ định hưởng di sản theo di chúc. 

Việc bổ sung khoản 2 Điều 631 BLDS năm 2015 (Điều 653 BLDS năm 2005) đã khái quát đầy đủ quyền định đoạt của người lập di chúc, theo đó nội dung của di chúc được mở rộng và thể hiện đầy đủ nhất ý nguyện của người lập di chúc. Vì nội dung của di chúc không chỉ trong phạm vi định đoạt tài sản, mà còn có thể là sự thể hiện ý nguyện nào đó của người lập di chúc, cần được tôn trọng, bảo vệ.    

e/ Người làm chứng cho việc lập di chúc: Điều 632 BLDS năm 2015 bổ sung thêm một đối tượng: “Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.  

Cá nhân có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì không thể là người làm chứng việc lập di chúc của người khác. Vì nhận thức của cá nhân này có hạn, không ổn định cho nên có thể bị lạm dụng và thiếu khách quan trong việc làm chứng việc lập di chúc của người khác. Quy định này hoàn toàn phù hợp với đời sống thực tế trong xã hội và ngăn chặn hữu hiệu sự lợi dụng cá nhân là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi lại là người làm chứng việc lập di chúc của cá nhân khác.  

f/ Di chúc bị thất lạc, hư hại: Điều 642 BLDS năm 2015 bổ sung thêm quy định tại khoản

3:“Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu”.

Việc bổ sung khoản 3 Điều 642 nhằm làm rõ sự tôn trọng giá trị hiệu lực của di chúc trong một hoàn cảnh cụ thể, đồng thời tôn trọng quyền của người được chỉ định thừa kế theo di chúc. Mặt khác, quy định này nhằm bảo vệ quyền định đoạt của người lập di chúc, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân người lập di chúc và của người thừa kế theo di chúc.

g/ Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc: Điều 644 BLDS năm 2015 bỏ đoạn cuối Điều 669 BLDS năm 2005:“Trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này”.  Việc sửa đổi quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc tại Điều 669 BLDS năm 2005, Điều 644 BLDS năm 2015 đã chặt chẽ hơn, thể hiện tính nhất thể hóa của chế định thừa kế cả về nội dung và hình thức thể hiện điều luật. 

h/ Di tặng: Điều 646 BLDS năm 2015 bổ sung khoản 2:“Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.

Khoản 2 Điều 646 BLDS năm 2015 đã dự liệu đầy đủ trường hợp chủ thể được di tặng không những là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, mà còn là người được sinh ra sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di tặng chết. Chủ thể được di tặng không phải là cá nhân thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người lập di chúc để lại phần di sản di tặng cho cá nhân, pháp nhân với ý nghĩa để kỷ niệm hoặc hàm ơn, thỏa mãn ý nguyện của người để lại di tặng.

f/ Giải thích nội dung của di chúc: Điều 648 BLDS năm 2015 bỏ “người công bố di chúc”, không phải là người giải thích nội dung của di chúc; bỏ quy định: “coi như không có di chúc và việc chia di sản được áp dụng theo quy định về thừa kế theo pháp luật” trong BLDS năm 2005. Quy định rõ hơn: “Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Quy định tại Điều 648 là quy định chặt chẽ, rõ ràng trong việc xác định người công bố di chúc không phải là người giải thích nội dung của di chúc, vì người công bố di chúc chỉ thực hiện nghĩa vụ công bố di chúc và hoàn toàn độc lập với những người thừa kế. Việc giải thích nội dung của di chúc thuộc về những người thừa kế theo di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đó của người để lại di chúc. Những người thừa kế theo di chúc không nhất trí về cách hiểu nội dung của di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định này nhằm bảo đảm cho các quyền dân sự và quyền khởi kiện dân sự của người thừa kế được bảo đảm thực hiện trong việc chia di sản theo di chúc.

k/ Những luận điểm về việc không quy định di chúc chung của vợ chồng trong BLDS năm 2015

Về  di chúc chung của vợ chồng được quy định tại các Điều 663, Điều 664 và Điều 668 BLDS năm 2005. Tuy nhiên, xung quanh những quy định trên còn nhiều vấn đề chưa thật phù hợp trong đời sống xã hội hiện đại. Trên thực tế, tòa án nhân dân các cấp trong thời gian từ năm 2006 đến nay, khi giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế liên quan đến di chúc chung của vợ chồng đã gặp không ít khó khăn về hiệu lực di chúc chung của vợ chồng. Vì vậy, BLDS năm 2015 đã không quy định về di chúc chung của vợ chồng là phù hợp với đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai. 

Về quyền lập chung di chúc của vợ chồng, Điều 663 BLDS năm 2005 quy định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản của mình”. Với tư cách là đồng sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản, vợ và chồng có quyền định đoạt tài sản của mình bằng nhiều phương thức, trong đó có quyền định đoạt tài sản của vợ chồng bằng cách lập di chúc. Quy định tại Điều 663 BLDS năm 2005, xét về hình thức và nội dung hoàn toàn không có điều gì khác biệt so với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các đồng sở hữu chủ đối với tài sản chung được BLDS quy định. Là đồng sở hữu chủ đối với tài sản, vợ và chồng có quyền định đoạt tài sản chung bằng cách lập di chúc, quy định đó không cần bàn luận thêm. Vấn đề chúng tôi quan tâm là quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Về hình thức của điều luật không có gì đáng bàn nhưng nội dung của điều luật được áp dụng như thế nào trong thực tế của đời sống xã hội thì còn nhiều vấn đề cần được bàn luận. Những vấn đề cần được bàn luận là căn cứ vào nội dung của Điều 668 BLDS năm 2005:

Xét về hiệu lực của di chúc: Di chúc chỉ thi hành được kể từ thời điểm mở thừa  kế, đó là thời điểm người để lại di sản chết hoặc được xác định là đã chết theo một bản án tuyên bố người đó chết có hiệu lực pháp luật. Theo quy định tại Điều 668 BLDS năm 2005, dường như các nhà làm luật chỉ chú tâm vào thời điểm có hiệu lực của di chúc chung đó mà không quan tâm đến tính hiện thực và nguyên tắc pháp luật thừa kế đồng thời không có sự cá biệt hoá từng chủ thể là vợ hoặc chồng đã cùng lập di chúc chung.

Theo quy định tại Điều 668 BLDS năm 2005, thì di chúc do vợ chồng lập chung chỉ có hiệu lực thi hành từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết. Trên thực tế, đối với một cặp vợ chồng cụ thể nào đó lập chung di chúc nhưng sau đó hoặc là người vợ chết trước hoặc là người chồng chết trước (sự kiện phổ biến trong cuộc sống) thì việc chia di sản của người chết trước đó là do những người có quyền thừa kế yêu cầu, khi họ đã không thể thoả thuận được và về mặt tâm lý, những người thừa kế theo di chúc cũng không thể đợi chờ lâu hơn, do việc hưởng di sản thôi thúc họ. Hơn nữa, người vợ hoặc người chồng của người chết trước tuổi còn trẻ, theo quy luật của sự sống, người này có thể còn sống 5 năm, 10 năm, 20 năm… thậm chí còn lâu hơn. Với thời gian lâu như vậy, những người thừa kế theo di chúc có thể kiên trì chờ đợi được chăng? Câu trả lời thông thường là không hoặc khó đợi chờ! Hơn nữa, di sản thừa kế chưa được chia do người sau cùng là vợ hoặc chồng chưa chết và do hiệu lực của di chúc vợ chồng lập chung thì hiệu quả sử dụng tài sản do người còn sống đang quản lý có thể lãng phí và có thể giảm sút bởi nhiều lý do không thể lường trước được. Quan hệ thừa kế di sản là quan hệ tài sản mang tính chất ý chí và ý chí của những người thừa kế là được chia di sản nhưng lại bị ngăn chặn bởi luật định. Quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng là quy định không phù hợp với thực tế, đồng thời còn là quy định vi phạm nguyên tắc chung của pháp luật thừa kế. Với quy định này, các nhà làm luật muốn ngăn chặn sự mất ổn định trong quan hệ gia đình nhưng đó chỉ là ý chí chủ quan, không phù hợp với quan hệ xã hội hiện nay. Bởi vì, những người thừa kế theo di chúc luôn quan tâm đến việc mình được hưởng bao nhiêu và khi nào được nhận di sản theo di chúc, nhưng người thừa kế theo di chúc chưa thể nhận di sản từ di chúc do vợ chồng lập chung mà người vợ hoặc người chồng còn sống. Quy định tại Điều 668 BLDS năm 2005 đã gián tiếp tạo ra những điều kiện cho những bất ổn trong quan hệ giữa những người thừa kế theo di chúc chung của vợ chồng và người quản lý di sản.

Về di sản thừa kế chưa chia: Do hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng xác định từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết vì vậy người vợ hoặc người chồng còn sống vẫn quản lý, sử dụng tài sản chung. Người vợ hoặc người chồng còn sống vừa với tư cách là người sở hữu phần tài sản của mình, vừa với tư cách sử dụng tài sản của những người thừa kế theo di chúc, phần tài sản mà người thừa kế theo di chúc được hưởng nhưng chưa được chia. Một câu hỏi được đặt ra là hiệu lực của di chúc phát sinh từ thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản nhưng do người đó đã lập chung di chúc với vợ hoặc chồng của mình mà hiệu lực chia tài sản thừa kế của người chết trước chưa thể thực hiện được. Quy định này không phù hợp với đời sống thực tế và hiệu quả điều chỉnh không thể cao. Không nên hiểu di sản thừa kế luôn tồn tại ở dạng tĩnh mà di sản phải được đặt trong mối liên hệ với xã hội sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và di sản phải được khai thác để phát sinh lợi nhuận. Trong chừng mực nhất định, di sản thừa kế chưa được chia còn được hiểu như khoản vốn cần phải được sử dụng vào sản xuất, kinh doanh. Theo quy định của pháp luật, di sản chỉ được chia sau khi người vợ hoặc người chồng là người sau cùng chết hoặc cả hai vợ chồng cùng chết vào một thời điểm, trong thời gian người vợ hoặc người chồng còn sống đã sử dụng di sản chưa chia của người chồng hoặc của người vợ chết trước vào sản xuất kinh doanh, thu được những lợi nhuận thì lợi nhuận đó là di sản thừa kế hay thuộc quyền sở hữu của người vợ hoặc người chồng còn sống đó? Đây là vấn đề cần được quan tâm, vì tính chất của di sản thừa kế không đơn thuần là loại tài sản nhất định nào đó mà di sản trước hết là tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản theo quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005.

Với tư cách đồng sở hữu chung hợp nhất tài sản thì vợ và chồng có quyền định đoạt tài sản chung bằng cách lập chung di chúc. Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ sự định đoạt chung đó bất cứ lúc nào do vợ và chồng của người lập di chúc chung tự định đoạt, cũng là quy định phù hợp với đời sống xã hội. Tuy nhiên, đoạn cuối, khoản 2 Điều 664 BLDS năm 2005 đã mở ra khả năng thừa nhận vợ chồng có quyền lập di chúc riêng, khi người chồng hoặc người vợ lập di chúc chung cùng mình đã chết. Quy định này phù hợp với quan hệ xã hội về tài sản và có tính hiện đại nhưng chưa dự liệu hết được những tình huống khác có thể phát sinh: Thứ nhất, vợ chồng cùng lập chung di chúc nhưng sau đó tự chồng hoặc vợ lại lập di chúc riêng mà chưa thoả thuận huỷ di chúc lập chung thì di chúc riêng đó có giá trị pháp lý không? Thứ hai, nếu di chúc lập chung trái pháp luật thì di chúc của vợ hoặc của chồng lập riêng có giá trị thi hành sau khi người vợ hoặc người chồng chết không?

BLDS năm 2015 không quy định về di chúc chung của vợ chồng, đã loại bỏ được những phức tạp do chính quy định của pháp luật làm phức tạp hóa một loại quan hệ dân sự đã quá rõ ràng và phổ biến trong xã hội Việt Nam từ trước đến nay.

Về thừa kế theo pháp luật

Chương XXIII (từ Điều 649 đến Điều 655 BLDS năm 2015), gồm 7 điều quy định về thừa kế theo pháp luật, không có sửa đổi, bổ sung mà vẫn giữ nguyên những quy định về thừa kế theo pháp luật quy định tại chương XXIV, từ Điều 674 đến Điều 680 BLDS năm 2005.

Thanh toán và phân chia di sản (Chương XXIV)

Quy định tại Điều 661 BLDS năm 2015 về hạn chế phân chia di sản, có sửa đổi Điều 686 BLDS năm 2005.Theo quy định tại Điều 661 BLDS năm 2015, sửa đổi đoạn cuối Điều 686 BLDS năm 2005 cho rõ hơn:“Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm”.

Quy định hạn chế phân chia di sản nhằm bảo vệ sự bình ổn trong quan hệ gia đình sau khi người để lại di sản chết không những về tình cảm, mà còn về tài sản là di sản thừa kế. Vì vậy, việc quy định gia hạn một lần không quá 03 năm, theo đó thời hạn tối đa về hạn chế phân chia di sản là 06 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hạn này là điều kiện thời gian để khắc phục những khó khăn trong đời sống lao động, sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và ổn định định cuộc sống của cá nhân hoặc gia đình. Vì vậy, quy định về thời hạn hạn chế phân chia di sản không những dự liệu giải quyết được những trường hợp thực tế, mà còn nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của những người thừa kế.

Chế định về quyền thừa kế trong BLDS năm 2015 nhằm điều chỉnh có hiệu quả quan hệ thừa kế trong xã hội hiện đại. Có những quy định của BLDS năm 2005 được sửa đổi, có những quy định mới được bổ sung và có những quy định bị loại bỏ. Những quy định của Phần thứ tư – Thừa kế, trong BLDS có kế thừa, sửa đổi, bổ sung, loại bỏ những quy định không phù hợp, vì vậy quy định về thừa kế trong BLDS năm 2015 chắc chắn sẽ điều chỉnh có hiệu quả quan hệ về thừa kế ở Việt Nam theo cơ chế thị trường, tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu và quyền thừa kế luôn luôn được bảo đảm thực hiện./.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam