|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 20/2026/DS-PT Ngày: 08/01/2026 “Tranh chấp yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: |
Bà Trịnh Thị Phúc |
Các Thẩm phán: |
Ông Nguyễn Quốc Tuấn |
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Trung Kiên– Thư ký Tòa án nhân dân Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 627/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 167/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 774/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là: Khu phố N, phường B, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị C: Anh Trần Hoàng N, sinh năm 1998; trú tại: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là: Ấp B, xã N, tỉnh Tây Ninh), theo văn bản ủy quyền ngày 07/02/2023 (có mặt).
- Bị đơn có yêu cầu độc lập: Ông Trần Đình H, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Số nhà B, đường số G, hẻm S, đường H, khu phố N, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là: Số nhà B, đường số G, hẻm S, đường H, khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Đình H: Chị Trương Ngọc T, sinh năm 2000;
Địa chỉ: khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là: ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh), theo văn bản ủy quyền ngày 21/02/2023 (có mặt).
Các bị đơn:
2
- Ông Ngô Hoàng T1, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là: Ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh);
Người đại diện hợp pháp của ông Ngô Hoàng T1: Chị Trương Ngọc T, sinh năm 2000;
Địa chỉ: khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là: Khu phố E, xã T, tỉnh Tây Ninh), theo văn bản ủy quyền ngày 16/12/2024 (có mặt)
- Bà Châu Thị N1, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, thành phố T (nay là: Tổ C, ấp T, phường B, tỉnh Tây Ninh)
Người đại diện hợp pháp của bà Châu Thị N1: Chị Trương Ngọc T, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là: Khu phố E, xã T, tỉnh Tây Ninh), theo văn bản ủy quyền ngày 17/12/2024 (có mặt).
- Ông Hồ Văn C1, sinh năm 1939
- Bà Hồ Thị M, sinh năm 1945
Đăng ký hộ khẩu: khu phố H, phường H, thành phố T (nay là khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh)
Nơi tạm trú: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là: Ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh);
Người đại diện hợp pháp của ông Hồ Văn C1, bà Hồ Thị M: Ông Đinh Bửu L, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (nay là: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh), theo văn bản ủy quyền ngày 06/7/2023 (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1967
- Bà Võ Thị Kim T2, sinh năm 1965;
Cùng địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, thành phố T (nay là: Tổ C, ấp T, phường B, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn M1: Chị Trương Ngọc T, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là: Khu phố E, xã T, tỉnh Tây Ninh), theo văn bản ủy quyền ngày 16/12/2024 (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Văn B, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Số D, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là: Số D, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh) (vắng mặt).
- Bà Trần Thị S, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là: Ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh) (vắng mặt có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
3
- Ông Huỳnh Quốc L1, sinh năm 1988
- Bà Huỳnh Thị Thúy V, sinh năm 1992;
Cùng địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, thành phố T (nay là: Tổ C, ấp T, phường B, tỉnh Tây Ninh) (vắng mặt đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị C, ông Trần Đình H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 7 năm 2022 và đơn sửa đổi bổ sung ngày 28/7/2022, đơn khởi kiện đề ngày 04/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Hoàng N thống nhất trình bày:
Bà C đứng tên quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 7400m² thuộc thửa 2606, tờ bản đồ số 10 và phần đất diện tích 11650m² thuộc thửa số 2608, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Do hiện nay không có con đường đi nào khác nay bà C yêu cầu ông Nguyễn Văn M1, bà Châu Thị N1, ông Ngô Hoàng T1, ông Hồ Văn C1, bà Hồ Thị M, ông Trần Đình H mở lại lối đi chung khôi phục lại hiện trạng con đường từ trước đến nay, cụ thể con đường có chiều ngang 5,5m, dài 594,4m, tổng diện tích là 3269,2m² đi qua các phần đất cụ thể:
PHẦN THỨ 01:
Phần đường đi qua đất thửa 2582, tờ bản đồ 10 ( Bản đồ 299) thửa mới 22 tờ số 58; chiếm diện tích 67,3m². Theo GCNQSDĐ số: 00564 QSDĐ/A9, cấp ngày 20/6/1995 do bà Hồ Thị M đứng tên. Có tứ cận:
Hướng đông: giáp đường (đang tranh chấp) theo giấy đất thửa 3216 dài 43,66m (từ mốc 38 đến mốc 37); Hướng tây giáp: đất bà M dài 43,38m (từ mốc 20 đến mốc 21); Hướng nam giáp: đường S-16 sỏi đỏ dài 2,18 m (Từ mốc 20 đến mốc 38); Hướng bắc giáp: thửa đất số 3217 của ông H dài 0,92 m (từ mốc 21 đến mốc 37); đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. ( nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh).
PHẦN THỨ 02:
Phần đường tranh chấp qua thửa 3216, tờ bản đồ: 10 (B₫ 299), thửa đất mới 36, tờ bản đồ 58, chiếm diện tích: 112,9m². Theo GCNQSDĐ số: CM285147; Số vào sổ: CS05251 cấp ngày 27/02/2018 cho ông Trần Đình H đứng tên. Có tứ cận:Hướng đông giáp: đường tranh chấp dài 43,38m (từ mốc 19 đến mốc 39); Hướng tây giáp: Ranh giới đất của bà M dài 43,66m (từ mốc 38 đến mốc 37);Hướng nam giáp: đường S-16 dài 1,96m (từ mốc 38 đến mốc 19); Hướng bắc giáp: Giáp thửa đất 3217 dài 3,24m (từ mốc 37 đến mốc 39); đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. ( nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh).
PHẦN THỨ 03:
Phần đường tranh chấp qua thửa 3216, tờ bản đồ:10 (BĐ: 299), thửa đất mới: 36, tờ bản đồ: 58, diện tích: 58,8m² + 542,4m². Theo GCNQSDĐ số: CS05251 cấp ngày 27/02/2018 cho ông Trần Đình H đứng tên. Có tứ cận: Hướng đông giáp: đường tranh chấp từ mốc dài 43,38m + 89,44m (từ mốc 19 đến mốc 17 dài 43,38m + từ mốc 17 đến mốc 16 dài 89,44m); Hướng tây giáp: giáp đường tranh chấp dài 43,38m + 4,16m (0,92m + 3,24m) + 89,44m (từ mốc 19 đến mốc 39 dài 43,38m + từ mốc 39 đến mốc 21 dài 4,16m + từ mốc 21 đến mốc 22 dài 89,44m); Hướng nam giáp: giáp đường S từ mốc 19 đến mốc 18 dài 1,36m; Hướng bắc giáp: giáp thửa 3217 dài 5,5m từ mốc 22 đến mốc 16; đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T,
4
tỉnh Tây Ninh. ( nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh). Tài sản trên đất: không có tài sản trên đất; giá trị đất 601,2 m² x 104.000 đồng /1 m² = 62.524.800 đồng.
PHẦN THỨ 04:
Phần đường tranh chấp qua thửa 3217, tờ bản đồ: 10, thửa đất mới: 35, tờ bản đồ: 58, diện tích: 3,1m². Theo GCNQSDĐ số:CS05252 cấp ngày 27/02/2018 cho ông Trần Đình H đứng tên. Có tứ cận: Hướng đông giáp: giáp thửa đất 3216 từ mốc 16 đến mốc 15 dài 0,37m; Hướng tây giáp: giáp thửa 3217 từ mốc 22 đến mốc 23 dài 0,77m; Hướng nam giáp: từ mốc 22 đến mốc 16 dài 5,5m; Hướng bắc giáp: từ mốc 23 đến mốc 15 dài 5,5m; đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. ( nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh). Tài sản trên đất: không có tài sản trên đất; giá trị đất 3,1m² x 104.000 đồng /1 m² = 322.400 đồng.
PHẦN THỨ 05:
Phần đường tranh chấp đi qua thửa đất số: 2584, tờ bản đồ: 10, thửa đất mới: 20, tờ bản đồ: 58, diện tích: 343,3m². Theo GCNQSDĐ số vào sổ: 00564QSDĐ/A9 cấp ngày 20/6/1995 cho bà Hồ Thị M đứng tên. Có tứ cận: Hướng đông giáp: giáp thửa 2584 từ mốc 15 đến mốc 14 dài 62,19m; Hướng tây giáp: giáp thửa 2584 từ mốc 23 đến mốc 24 dài 62,19m; Hướng nam giáp: từ mốc 23 đến mốc 15 dài 5,5m; Hướng bắc giáp: từ mốc 24 đến mốc 14 dài 5,55m; đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. ( nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh).
PHẦN THỨ 06:
phần đường tranh chấp đi qua thửa đất 2682, tờ bản đồ: 10, thửa đất mới: 17, tờ bản đồ: 58, diện tích: 523,6m². Theo GCNQSDĐ số: H01913 cấp ngày 06/06/2007 cho ông Hồ Văn C1 đứng tên. Có tứ cận: Hướng đông giáp: giáp cạnh đường tranh chấp phía đông thuộc thửa 2682 từ mốc 14 đến mốc 13 dài 95,73m; H1 tây giáp: giáp cạnh đường phía tây thuộc thửa 2682 từ mốc 24 đến mốc 25 dài 94,48m; Hướng nam giáp: giáp thửa 2584 từ mốc 24 đến mốc 14 dài 5,55m; Hướng bắc giáp: giáp thửa 2977; 2602 từ mốc 25 đến mốc 13 dài 5,55m; đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. ( nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh).
PHẦN THỨ 07:
Phần đường tranh chấp đi qua thửa 2682, tờ bản đồ: 10, thửa đất mới số: 17, tờ bản đồ: 58, diện tích: 5,5m². Theo GCNQSDĐ số: H01913 cấp ngày 06/06/2007 cho ông Hồ Văn C1 đứng tên. Có tứ cận: Hướng đông giáp: giáp cạnh đường tranh chấp phía đông thuộc thửa 2682 từ mốc 13 đến mốc 12 dài 1,01m; Hướng tây giáp: giáp cạnh đường tranh chấp phía tây thuộc thửa 2682 từ mốc 25 đến mốc 26 dài 1,01m; Hướng nam giáp: giáp ranh chính quy giữa thửa 2682 và 2977 từ mốc 25 đến mốc 13 dài 5,55m; Hướng bắc giáp: giáp thửa 2977 từ mốc 26 đến mốc 12 dài 5,55m; đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. ( nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh).
PHẦN THỨ 08
Phần đường tranh chấp đi qua thửa 2977, tờ bản đồ: 10, thửa đất mới số: 12, tờ bản đồ: 58, diện tích: 371,2m². Theo GCNQSDĐ số: CH001219 cấp ngày: 09/02/2012 cho ông Ngô Hoàng T1 đứng tên. Có tứ cận: Hướng đông giáp: cạnh đường tranh chấp phía đông thuộc thửa 2977 từ mốc 12 đến mốc 11 dài 68,19m; Hướng tây giáp: giáp cạnh đường tranh chấp phía tây thuộc thửa 2977 từ mốc 26 đến mốc 27 dài 68,89m; Hướng nam giáp: giáp thửa 2682 từ mốc 26 đến mốc 12 dài 5,55m; Hướng bắc giáp: giáp thửa 2606 từ mốc 27 đến mốc 11 dài 5,55m; đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh).
PHẦN THỨ 9:
Phần đường tranh chấp đi qua thửa 2605, tờ bản đồ 10, tờ bản đồ: 58, diện tích: 250,2m² (Trong đó là 160,8m² + 89,4m²). Theo GCNQSDĐ số vào
5
sổ: 03156 QSDĐ/467/04/QĐ-UB cấp ngày: 22/10/2004 cho ông Huỳnh Hồ H2 (Vợ bà Châu Thị N1) đứng tên. Có tứ cận: Hướng đông giáp: Đất bà N1 dài 2,47m + 29,32m + 23,86m + 1,22m + 2,82m (từ điểm cắt được tạo giữa ranh theo giấy của thửa 2606 với cạnh đường tranh chấp từ mốc 10-9 đến mốc số 9 dài 2,47m + từ mốc số 9 đến mốc số 8 dài 29,32m + từ mốc số 8 đến mốc số 7 dài 23,86m + từ mốc số 7 đến mốc số 6 dài 1,22m + từ mốc số 6 đến điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 6-5 với ranh theo giấy của thửa 2605 dài 2,82m); Hướng tây giáp: giáp thửa 2606 dài 14,66m + 13,31m + 16,14m (Từ điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 29-30 với ranh theo giấy của thửa 2606 đến mốc 30 dài 14,66m + từ mốc số 30 đến điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 30-31 với ranh theo giấy của thửa 2606 dài 13,31m + điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 30-31 với ranh theo giấy của thửa 2606 đến điểm cắt giao nhau của 03 thửa 2606, 2605, 2626 dài 16,14m); Hướng nam giáp: thửa 2606 dài 17,62m ( từ điểm cắt được tạo giữa ranh theo giấy của thửa 2606 với cạnh đường tranh chấp từ mốc 10-9 đến điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 29-30 với ranh theo giấy của thửa 2606); Hướng bắc giáp: thửa 2626 dài 0,45m (điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 6-5 với ranh theo giấy của thửa 2605 đến điểm cắt giao nhau của 03 thửa 2606, 2605, 2626); đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. ( nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh). Tài sản trên đất: không; giá trị đất: 250,2m² x 71.000 đ/1m² = 17.764.200 đồng.
PHẦN THỨ 10:
Phần đường tranh chấp đi qua thửa 2626, tờ bản đồ: 10, thửa đất mới số:05, tờ bản đồ:58, diện tích: 190,5m² + 371,5m² Theo GCNQSDĐ số: H01782; số vào sổ: cấp ngày: 02/04/2007 cho ông Nguyễn Văn M1 đứng tên. Có tứ cận: Hướng đông giáp: Đất ông M1 dài 3,26m + 21,74m + 28,46m + 35,55m + 80,23m (từ mốc 6 đến điểm cắt được tạo bởi cạnh tranh chấp từ mốc 6-5 với ranh theo giấy của 02 thửa 2626, 2605 dài 3,26m + từ mốc số 5 đến mốc số 4 dài 21,74m + từ mốc 4 đến mốc 3 dài 28,46m + từ mốc 3 đến mốc 2 dài 35,55m + từ mốc số 2 đến mốc số 1 dài 80,23m); Hướng tây giáp: đất bà C dài 20,91m + 4,35m + 27,92m +5,65m + 4,42m + 3m + 12,81m + 71,38m + 2,78m + 20,02m (Từ điểm cắt giao nhau của 03 thửa 2606, 2605, 2626 đến điểm cắt của cạnh đường tranh chấp từ mốc 31-32 với ranh theo giấy đất thửa 2606 dài 20,91m + điểm cắt của cạnh đường tranh chấp từ mốc 31-32 với ranh theo giấy đất thửa 2606 đến mốc 32 dài 4,35m + từ mốc 32 đến mốc 33 dài 27,92m + từ mốc 33 đến điểm cắt nhau của cạnh đường tranh chấp từ mốc 33-34 với ranh đất theo giấy của thửa 2606 dài 5,65m + điểm cắt nhau cạnh đường tranh chấp phía tây với ranh đất theo giấy của thửa 2606 đến mốc 34 cắt với điểm cắt ranh đất theo giấy của thửa 2608, 2606 với cạnh đường tranh chấp phía tây dài 4,42m + điểm cắt ranh đất theo giấy của thửa 2608, 2606 với cạnh đường tranh chấp phía tây đến mốc 50 dài 3m + từ mốc 50 đến mốc 51 dài 12,81m + từ mốc 51 đến mốc 52 dài 71,38m + mốc 52 đến mốc 53 dài 2,78m + từ mốc 53 đến mốc 36 dài 20,02m); Hướng nam giáp: dài 0,45m ( điểm cắt được tạo bởi cạnh tranh chấp từ mốc 6-5 với ranh theo giấy của 02 thửa 2626, 2605 đến điểm cắt giao nhau của 03 thửa 2606, 2605, 2626 dài 0,45m); Hướng bắc giáp: đất ông Bùi Văn T3 dài 1,48m ( Từ mốc 36 đến mốc số 1 dài 1,48m); đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. ( nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh).
Buộc ông M1, bà N1, ông T1, ông C1, bà M, ông H mở lại lối đi chung khôi phục hiện trạng con đường từ trước đến nay và mở lối đi mới cụ thể như sau: Con đường
6
có chiều ngang: 5,5m x chiều dài: 594,4m, tổng diện tích là: 3.269,2m², tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và căn cứ theo Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất của công ty Cổ phần T7 ngày 25/6/2023.
- + Giữ yêu cầu đối với ông C1 trước kiện yêu cầu mở đường ngang 5,5 m x 96,2 m qua đo đạc diện tích: 529,1 m².
- + Bà Châu Thị N1, bà Huỳnh Thị Thúy V1, ông Huỳnh Quốc L1 giữ nguyên yêu cầu ban đầu và theo kết quả đo đạc ngang 5,5 m x 45,49 m, diện tích 250,2 m².
- + Giữ nguyên yêu cầu ban đầu đối với ông Ngô Hoàng T1 theo kết quả đo đạc ngang 5,5 m x 67,49 m, diện tích 371,2 m².
- + Thay đổi yêu cầu đổi với ông Trần Đình H trước yêu cầu 5,5 m x 87,02 m = 478,61m², nay do đo đạc tăng thêm 32,68 m x 5,5 m = 179,74 m² ; Tổng cộng yêu cầu 5,5 m x 119,7m = 658,4 m². Giá trị phần yêu cầu diện tích tăng 179,74 m² x 104.000 đồng /1m² = 18.692.960 đồng.
- + Thay đổi yêu cầu đối với ông M1 trước kiện yêu cầu mở đường ngang 5,5 m x 67,5 m = 371,5 m²,
Nay qua đo đạc thực tế thay đổi tăng 190,5 m² yêu cầu cụ thể: thửa 2626, tờ bản đồ: 10, thửa đất mới số: 5, tờ bản đồ:58, diện tích: 562 m² Theo GCNQSDĐ số: H01782 cấp ngày: 02/04/2007 cho ông Nguyễn Văn M1 đứng tên. Có tứ cận:
Hướng đông: mốc số 1-2-3-4-5 dài 80,23 + 35,55 + 28,46 + 21,74= 165,89 m
Hướng Tây mốc số 36-53-52-51-50-49-5 dài: 20,02 + 2,78 + 71,38 + 12,81 + 9,57+51,32 = 167,88 m;
Hướng Nam: 00 mét (phần mũi nhọn)
Hướng Bắc: Từ mốc 36-01 dài 1,48m;
Do vậy bà thay đổi yêu cầu buộc ông M1 mở đường tổng diện tích yêu cầu của 2 lần: 562 m² có tứ cận như trình bày ở trên.
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 7 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Đình H và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chị Trương Ngọc T thống nhất trình bày:
Ông Trần Đình H đứng tên 02 phần đất thửa số 3216, tờ bản đồ số 10, diện tích 3430,8m² và thửa đất số 3217, tờ bản đồ số 10, diện tích 13717,4m² cùng tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh). Thửa đất của ông H tiếp giáp với thửa đất của ông Hồ Văn C1 và bà Hồ Thị M (do ông Hồ Văn B trực tiếp quản lý sử dụng), có con đường nội bộ từ trước đến nay do các hộ dân dùng làm lối đi chung ngang 5,5m, dài 200m từ đường công cộng đi sâu vào trong (con đường thể hiện trên sơ đồ đất của ông H). Hiện ông C1 và ông B đã xây hàng rào có chân tường trên đất của họ và xây lấn sang con đường nội bộ (phần diện tích đất lấn 108m²; chiều rộng 1,8m; x chiều dài 60m). Việc rào lại con đường đi này gây ảnh hưởng đến việc vận chuyển hàng hóa của ông H vì con đường chật hẹp. Sau khi ông C1, bà M rào đường sự việc này đã được Ủy ban nhân dân xã T giải quyết nhưng hòa giải không thành. Vì vậy, ông H yêu cầu ông Hồ Văn C1, bà Hồ Thị M, ông Hồ Văn B tháo dỡ hàng rào (15 trụ bê tông đúc sẵn cao 2m, móng rào kết cấu xây gạch tô dày 10 cm)
7
để khôi phục lại hiện trạng con đường theo Giấy chứng nhận QSDĐ của ông H, trả lại phần diện tích đã lấn chiếm là 112,9m², có tứ cận:
- + Hướng Đông giáp đường tranh chấp dài 43,38m.
- + Hướng Tây giáp ranh đất của bà M dài 43,66m.
- + Hướng Nam giáp đường S-16 dài 1,96m.
- + Hướng Bắc giáp thửa 3217 dài 3,24m. Tài sản trên đất: 15 trụ xi măng + móng hàng rào kết cấu xây gạch tô, dày 10 cm: tổng giá trị: 3.036.486 đồng; giá trị đất 112,9m²x 104.000 đồng /1 m² = 11.741.600 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Châu Thị N1 và người đại diện hợp pháp của bà N1 là chị Trương Ngọc T thống nhất trình bày:
Phần đất bà ở vị trí phía trong tiếp giáp đất của các ông Ngô Hoàng T1, bà C. Trước đây trên phần đất của bà và các chủ đất tiếp giáp khác có 01 con đường là lối đi chung ở phía Tây đất của bà, tuy nhiên năm 2006 ông C1 mua đất của bà 4 M2 và ông C2 rồi ông C1 trồng cao su, móc mương ngang đất và trồng 01 hàng cây cao su lên con đường đi chung. Sau khi phát hiện ông C1 tự ý móc mương thì bà C là chủ đất ở vị trí sau cùng mới khởi kiện tranh chấp yêu cầu ông C1 mở lối đi tại xã T, huyện T. Do hiện nay con đường đi chung đã bị ông C1 móc mương ngang đất, không cho những chủ đất phía bên trong vận chuyển nông sản ra ngoài. Khi nào ông C1 trả lại hiện trạng con đường thì bà đồng ý trả lại hiện trạng đường, vì cả đoạn đường chỉ có ông C1 là người cản trở. Phần đất bà đang quản lý sử dụng có diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 10.350m², thửa đất số 2605, tờ bản đồ số 10, do UBND huyện T cấp ngày 22/10/2004 cho chồng bà ông Huỳnh Hồ H2, sinh năm 1965 (chết năm 2005) đứng tên chủ sử dụng. Đất có tứ cận: phía Đông giáp suối, phía Tây giáp đất bà Nguyễn Thị C, phía Nam giáp đất ông Ngô Hoàng T1, phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn M1. Trên đất hiện đang canh tác trồng cây cao su được 04 năm, chưa thu hoạch. Nguồn gốc đất do bà và ông H2 mua lại của ông B1 vào năm 1997 với giá 30.000.000 đồng. Khi vợ chồng bà mua lại phần đất thì ở phía Tây đất có sẵn 01 con đường đi chung, những người dân ở khu vực đất đều đi lối đi này cho đến năm 2006 ông C1 vào mua đất gần đó thì xảy ra tranh chấp. Ông H2 và bà chung sống với nhau năm 1987, sau này có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Ông H2 và bà H3 có 02 con chung tên Huỳnh Thị Thúy V, sinh năm 1993 và Huỳnh Quốc L1, sinh năm 1988; cùng cư trú tại: ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Ong H2, bà H3 không có con nuôi hay con riêng nào khác. Sau khi ông H2 chết, gia đình bà đã làm thủ tục phân chia thừa kế đối với diện tích đất 10.350m², thửa đất số 2605, tờ bản đồ số 10 và giao lại toàn bộ diện tích đất cho Huỳnh Thị Thúy V. Hồ sơ cấp lại diện tích đất cho V đã được nộp tại huyện T và có phiếu hẹn nhận kết quả, tuy nhiên sau đó trên huyện lại trả hồ sơ về xã làm lại thủ tục, bà N1 không biết lý do vì sao. Cha ruột ông H2 họ tên Huỳnh Văn T4 (chết năm 2003 – 2004), mẹ ruột họ tên là Huỳnh Thị P, 94 tuổi, đang cư trú tại: xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, mẹ chồng bà có biết và có đến UBND xã T, huyện T ký các giấy tờ từ chối nhận di sản thừa kế của ông H2 và giao lại phần đất nêu trên cho V, bà N1 đồng ý theo yêu cầu của bà C: Phần đường tranh chấp cụ thể đi qua thửa 2605, tờ bản đồ 10, tờ bản đồ: 58, diện tích: 250,2m² (trong đó là 160,8m² + 89,4m²). Theo GCNQSDĐ số vào sổ:
8
03156 QSDĐ/467/04/QĐ-UB cấp ngày: 22/10/2004 cho ông Huỳnh Hồ H2 (Vợ bà Châu Thị N1) đứng tên. Có tứ cận:
- - Hướng đông giáp: Đất bà N1 dài 2,47m + 29,32m + 23,86m + 1,22m + 2,82m (từ điểm cắt được tạo giữa ranh theo giấy của thửa 2606 với cạnh đường tranh chấp từ mốc 10-9 đến mốc số 9 dài 2,47m + từ mốc số 9 đến mốc số 8 dài 29,32m + từ mốc số 8 đến mốc số 7 dài 23,86m + từ mốc số 7 đến mốc số 6 dài 1,22m + từ mốc số 6 đến điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 6-5 với ranh theo giấy của thửa 2605 dài 2,82m).
- · Hướng tây giáp: giáp thửa 2606 dài 14,66m + 13,31m + 16,14m (Từ điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 29-30 với ranh theo giấy của thửa 2606 đến mốc 30 dài 14,66m + từ mốc số 30 đến điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 30-31 với ranh theo giấy của thửa 2606 dài 13,31m + điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 30-31 với ranh theo giấy của thửa 2606 đến điểm cắt giao nhau của 03 thửa 2606, 2605, 2626 dài 16,14m).
- - Hướng nam giáp: thửa 2606 dài 17,62m ( từ điểm cắt được tạo giữa ranh theo giấy của thửa 2606 với cạnh đường tranh chấp từ mốc 10-9 đến điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 29-30 với ranh theo giấy của thửa 2606).
- Hướng bắc giáp: thửa 2626 dài 0,45m (điểm cắt được tạo bởi cạnh đường tranh chấp từ mốc 6-5 với ranh theo giấy của thửa 2605 đến điểm cắt giao nhau của 03 thửa 2606, 2605, 2626).
Nay bà N1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C về mở con đường đi qua các phần đất của bà.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn của ông Hồ Văn C1, bà Hồ Thị M là ông Đinh Bửu L thống nhất trình bày: Ông C1, bà M không chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của phía các nguyên đơn vì từ trước đến nay không có con đường đi qua các phần đất này mà các hộ dân phía trong chỉ đi luồn qua đất của nhau để đi ra ngoài, diện tích đất của ông C1, bà M bao nhiêu và gồm các thửa nào hiện nay ông không nắm, trường hợp trên hệ thống bản đồ không thể hiện con đường, mặc dù nhu cầu của những hộ dân phía trong cần thiết thì ông C1, bà M cũng không đồng ý mở đường nhưng ông C1, bà M vẫn đồng ý tạo điều kiện cho những người dân ở phía trong đi lại được. Nếu bà C khai thác cây cao su thì có thể vận chuyển bằng xe công nông nhỏ qua lại được, vị trí địa lý đất gần suối mùa mưa nước theo dòng chảy ra suối “Núc” muốn làm đường phải có kỹ sư thiết kế, thăm dò địa chất không thể tự ý mở đường sẽ không an toàn tính mạng của người dân khi tham ra giao thông gần suối khi mùa mưa lụt, các nguyên đơn yêu cầu ông bà nhường đất mở đường đi qua phần đất của ông, bà sẽ bị chia cắt rất khó khăn trong việc sản suất, đi lại quản lý tài sản trên đất.
Riêng yêu cầu của ông H yêu cầu di dời hàng rào trả lại một phần đất là con đường là không có căn cứ vì từ xưa đến nay phần đất của ông, bà không có tồn tại con đường về phía đông như trong giấy chứng nhận QSD đất của ông H hiện nay, việc ông H sang nhượng đất của người khác và mới làm lại giấy khi làm tự ý không thông qua ông, chữ ký tên tứ cận không phải do ông bà ký, phần đất con đường như ông H trình bày là do bà M đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thể
9
hiện rất rõ trong sơ đồ đo đạc và được cơ quan Nhà nước trả lời con đường không hiện hữu trên sơ đồ.
Vì vậy đề nghị Tòa án giữ nguyên hiện trạng đất, không chấp nhận yêu cầu của ông H và bà C.
Đối với giấy chứng nhận của ông H cấp sai ông bà sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Chị Trương Ngọc Triều đại D theo ủy quyền của ông Ngô Hoàng T1 trình bày:
Với tư cách là bị đơn bị bà C khởi kiện thì: Phần đất ông ở vị trí phía trong tiếp giáp đất của các ông Hồ Văn C1, bà N1 và bà C. Trước đây trên phần đất của ông và các chủ đất tiếp giáp khác có 01 con đường là lối đi chung, tuy nhiên năm 2006 ông C1 mua đất của bà 4 M2 và ông C2 rồi ông C1 trồng cao su, móc mương ngang đất và trồng 01 hàng cây cao su lên con đường đi chung. Sau khi phát hiện ông C1 tự ý móc mương thì bà C là chủ đất ở vị trí sau cùng khởi kiện tranh chấp yêu cầu ông C1 mở lối đi tại xã T, huyện T. Hiện nay con đường đi chung đã bị ông C1 móc mương ngang đất, không cho những chủ đất phía bên trong vận chuyển nông sản ra ngoài, khi nào ông C1 trả lại hiện trạng con đường thì ông đồng ý trả lại hiện trạng đường, vì cả đoạn đường chỉ có ông C1 là người cản trở. Phần đất ông đang quản lý sử dụng có diện tích 7.500m², thuộc các thửa đất số 2971, 2977, tờ bản đồ số 10, do UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/02/2012, số GCN CH001239 (diện tích 2.500m²) và ngày 24/10/2011, số cấp GCN CH001059 (diện tích 5000m²) cho ông và vợ là Trần Thị S đứng tên chủ sử dụng. Đất có tứ cận: phía Đông giáp suối, phía Tây giáp đất ông Hồ Văn C1, phía Nam giáp đất ông Hồ Văn C1, phía Bắc giáp đất bà Châu Thị N1. Trên đất hiện đang canh tác trồng cây cao su được 4,5 năm, chưa thu hoạch. Nguồn gốc đất do ông mua lại của ông Lê Văn H4 vào năm 2011 với giá 175.000.000 đồng. Khi ông mua lại phần đất thì đã có sẵn 01 con đường là lối chung, những người dân ở khu vực đất đều đi lối đi này cho đến năm 2006 ông C1 vào mua đất gần đó thì xảy ra tranh chấp, ông đồng ý theo yêu cầu của bà C, cụ thể:
Phần đường tranh chấp đi qua thửa 2977, tờ bản đồ: 10, thửa đất mới số: 12, tờ bản đồ: 58, diện tích: 371,2m². Theo GCNQSDĐ số: CH001219 cấp ngày: 09/02/2012 cho ông Ngô Hoàng T1 đứng tên. Có tứ cận: Hướng đông giáp: cạnh đường tranh chấp phía đông thuộc thửa 2977 từ mốc 12 đến mốc 11 dài 68,19m. Hướng tây giáp: giáp cạnh đường tranh chấp phía tây thuộc thửa 2977 từ mốc 26 đến mốc 27 dài 68,89m. Hướng nam giáp: giáp thửa 2682 từ mốc 26 đến mốc 12 dài 5,55m. Hướng bắc giáp: giáp thửa 2606 từ mốc 27 đến mốc 11 dài 5,55m. Tài sản trên đất: 17 cao su cây cao su 03 năm tuổi, giá 300.000 đồng/1 cây = 5.100.000 đồng; giá trị đất: 371,2m² x 85.000 đ/1m² = 31.552.000 đồng. Không yêu cầu bồi thường về tài sản.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị S thống nhất với lời trình bày của ông Ngô Hoàng T1 và không có ý kiến gì bổ sung.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay ông Nguyễn Văn M1 và người đại diện hợp pháp của ông M1 là chị Trương Ngọc T thống nhất trình bày:
10
Ông M1 có đứng tên phần đất thuộc thửa 2626, tờ bản đồ 10 (bản đồ năm 299), thửa đất mới số 5, tờ bản đồ 58, diện tích: 190,5m² + 371,5m², theo GCNQSDĐ số: H01782; số vào sổ cấp ngày: 02/04/2007 cho ông Nguyễn Văn M1 đứng tên, đất có tứ cận như sau:
Hướng đông giáp: Đất ông M1 dài 3,26m + 21,74m + 28,46m + 35,55m + 80,23m (từ mốc 6 đến điểm cắt được tạo bởi cạnh tranh chấp từ mốc 6-5 với ranh theo giấy của 02 thửa 2626, 2605 dài 3,26m + từ mốc số 5 đến mốc số 4 dài 21,74m + từ mốc 4 đến mốc 3 dài 28,46m + từ mốc 3 đến mốc 2 dài 35,55m + từ mốc số 2 đến mốc số 1 dài 80,23m);
Hướng tây giáp: đất bà C dài 20,91m + 4,35m + 27,92m +5,65m + 4,42m + 3m + 12,81m + 71,38m + 2,78m + 20,02m (Từ điểm cắt giao nhau của 03 thửa 2606, 2605, 2626 đến điểm cắt của cạnh đường tranh chấp từ mốc 31-32 với ranh theo giấy đất thửa 2606 dài 20,91m + điểm cắt của cạnh đường tranh chấp từ mốc 31-32 với ranh theo giấy đất thửa 2606 đến mốc 32 dài 4,35m + từ mốc 32 đến mốc 33 dài 27,92m + từ mốc 33 đến điểm cắt nhau của cạnh đường tranh chấp từ mốc 33-34 với ranh đất theo giấy của thửa 2606 dài 5,65m + điểm cắt nhau cạnh đường tranh chấp phía tây với ranh đất theo giấy của thửa 2606 đến mốc 34 cắt với điểm cắt ranh đất theo giấy của thửa 2608, 2606 với cạnh đường tranh chấp phía tây dài 4,42m + điểm cắt ranh đất theo giấy của thửa 2608, 2606 với cạnh đường tranh chấp phía tây đến mốc 50 dài 3m + từ mốc 50 đến mốc 51 dài 12,81m + từ mốc 51 đến mốc 52 dài 71,38m + mốc 52 đến mốc 53 dài 2,78m + từ mốc 53 đến mốc 36 dài 20,02m).
Hướng nam giáp: dài 0,45m ( điểm cắt được tạo bởi cạnh tranh chấp từ mốc 6-5 với ranh theo giấy của 02 thửa 2626, 2605 đến điểm cắt giao nhau của 03 thửa 2606, 2605, 2626 dài 0,45m).
Hướng bắc giáp: đất ông Bùi Văn T3 dài 1,48m ( Từ mốc 36 đến mốc số 1 dài 1,48m).
Nay ông đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C, vì ông muốn mở con đường đi này để thuận tiện cho việc vận chuyển nông sản.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn B trình bày:
Đối với các nguyên đơn yêu cầu mở lối đi rộng 5,5m qua các thửa đất của cha mẹ ông nhưng cha mẹ ông (ông C1, bà M2) không đồng ý với yêu cầu này vì các lý do sau: Theo quy định của pháp luật và hệ thống bản đồ địa chính, không có lối đi nào tồn tại trên các thửa đất của họ và của cha mẹ ông như nguyên đơn yêu cầu. Việc mở lối đi này không chỉ ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất hợp pháp của ông C1, bà M2 mà còn gây thiệt hại về tài sản và giá trị kinh tế đất, hiện ông vẫn đang quản lý và cạo mủ cây cao su trên đất của ông C1 bà M2.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Huỳnh Quốc L1 và bà Huỳnh Thị Thúy V thống nhất với lời trình bày của bà Châu Thị N1.
Tại phiên tòa người đại diện uỷ quyền của bà C trình bày: Theo đơn khởi kiện ngày 28/7/2022 bà C yêu cầu ông C1 khôi phục con đường có diện tích 1.100m² nhưng qua đo đạc thực tế chỉ còn diện tích 529,1m², rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 570,9m².
11
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 167/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình H đối với ông Hồ Văn C1 và ông Hồ Văn B về việc “Tranh chấp dân sự yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề”.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C đối với ông Trần Đình H, ông Ngô Hoàng T1, bà Châu Thị N1, ông Hồ Văn C1, bà Hồ Thị M, ông Nguyễn Văn M1 về việc “Tranh chấp dân sự yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề".
2.1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C đối với ông Hồ Văn C1 bà Hồ Thị M về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề đối với diện tích 570,9m².
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá: Buộc ông Trần Đình H phải chịu chi phí đo đạc số tiền 27.270.000đồng và thẩm định giá số tiền 6.000.000đồng; tổng cộng 33.270.000đồng. Buộc bà Nguyễn Thị C phải chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 2.500.000đồng, đo đạc số tiền 122.720.000 đồng, thẩm định giá số tiền 16.000.000đồng; tổng cộng 141.220.000đồng. Ghi nhận ông H, bà C đã nộp và chi phí xong.
- Án phí phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Đình H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 1.875.000đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003984 ngày 26/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Hoàn trả cho ông Trần Đình H số tiền 1.575.000đồng.
Bà Nguyễn Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Ngày 09/10/2025 bà Nguyễn Thị C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.
Ngày 09/10/2025 ông Trần Đình H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Phần tranh luận:
Người đại diện theo ủy quyền của bà C trình bày: thửa đất 2606 và 2608 của bà C bị vây bọc bởi các bất động sản khác, không có lối đi ra đường công cộng, do đó bà C khởi kiện yêu cầu ông T1, ông M1, bà N1, chị V1, anh L1, ông H, ông C1, bà M mở lối đi là có căn cứ. Do không có lối đi để ra đường công cộng nên ông T1, ông M1, bà N1, ông H đã đồng ý với yêu cầu mở lối đi của bà C, chỉ có ông C1 và bà M là không đồng ý với yêu cầu mở lối đi này. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bà C có lối đi khác
12
qua đất của ông T5 là không có căn cứ, bởi vì thực tế không có lối đi này và bà C cũng chưa từng đi lối đi này để ra đường công cộng. Từ trước đến nay để đi ra đường công cộng bà C phải đi luồn lách, len lỏi qua các hàng cao su của ông T1, ông M1, bà N1, bà M, ông C2, đến năm 2006 ông C1 mua đất của ông C2 và đào mương chắn ngang lối đi này nên buộc lòng bà C phải đi lòng vòng len lỏi qua các hàng cao su của ông C1, bà M mới ra được lối đi công cộng. Hiện nay các thửa đất bên trong như đất của ông M1, ông T1, bà N1, chị V, anh L1 cũng không có lối đi ra đường công cộng vì vậy ông M1, ông T1, bà N1, chị V1 mới đồng ý với yêu cầu mở lối đi của bà C1 để có lối đi ra đường công cộng. Trong trường hợp Tòa án không chấp yêu cầu mở lối đi của bà C như đã nêu ở phần yêu cầu khởi kiện thì sẽ phát sinh một vụ kiện khác về yêu cầu mở lối đi của ông T1, ông M1, bà N1 và chị V sẽ rất tốn kém và mất nhiều thời gian. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu mở lối đi của bà C có chiều ngang 5,5m để đảm bảo cho việc phục vụ sản xuất của bà C, của ông T1, ông M1, bà N1, chị V.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H trình bày: ông H đồng ý với yêu cầu mở lối đi của bà C.
Đối với yêu cầu của ông yêu cầu bà M, ông B phải tháo dỡ hàng rào (15 trụ bê tông đúc sẵn cao 2m, móng rào kết cấu xây gạch tô dày 10 cm) để khôi phục lại hiện trạng con đường theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, trả lại phần diện tích đã lấn chiếm là 112,9m² vì phần đất trên theo sơ đồ hiện trạng thuộc thửa 3216 của ông H, thửa đất của ông H giáp lối đi công cộng, bà M, ông B đã làm hàng rào lấn chiếm một phần lối đi và một phần thửa đất 3216 của ông H. Bà M cho rằng khi ông H cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 3216 và 3217 thì bà M không ký giáp ranh là không đúng, khi đó có ông Huỳnh Văn B2 là con bà M chứng kiến và ký giáp ranh, vì vậy cơ quan có thẩm quyền mới cập nhật bản đồ địa chính năm 2023 có hiện trạng là thửa đất 3216 của ông H giáp con đường, không tiếp giáp thửa đất của bà M. Phần hàng rào (15 trụ bê tông đúc sẵn cao 2m, móng rào kết cấu xây gạch tô dày 10cm) bà M xây dựng trên thửa đất 3216 của ông H. Vì vậy, ông H yêu cầu bà M tháo dở là có căn cứ, do đó yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H.
Ông L là người đại diện theo ủy quyền của bà M, ông C1 trình bày tranh luận đối với yêu cầu kháng cáo của ông H: thửa đất 3216 của ông H trồng cao su tiếp giáp với đường công cộng TV- 16 và tiếp giáp thửa 2582 của bà M, giữa thửa đất 3216 của ông M1 (cha ruột ông H) và thửa 2582 của bà M không có lối đi và hai thửa đất giáp ranh nhau. Đến tháng 2 năm 2018 ông H đăng ký cấp đổi và cập nhật theo bản đồ năm 2023 thì ông H ý kê khai có lối giữa thửa 3216 của ông H và thửa 2582 của bà M, khi ông H cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2018 thì bà M không ký giáp ranh và ông H đã kê khai một phần thửa đất 2582 của bà M vào thửa đất 3216 của ông H. Ông H cho rằng có nhờ anh B2 là con bà M có ký ranh nhưng anh B2 không đồng ý. Sau đó không biết bằng cách nào ông H được cấp giấy thửa 3216 và thể hiện thửa 3216 cố lối đi công cộng mà không phải thửa đất 2582 của bà M và cấp trùm lên một phần thửa 2582 của bà M. Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H đối với thửa 3216 là đúng pháp luật, bà M sẽ khởi kiện yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H đối với thửa 3216 bằng vụ kiện khác.
13
Ông L là người đại diện theo ủy quyền của bà M, ông C1 trình bày tranh luận đối với yêu cầu kháng cáo của bà C: Việc bà C yêu cầu mở lối đi được thể hiện theo sơ đồ hiện trạng là rất tốn kém, không thuận tiền làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhiều người trong đó có ông C1 và bà M. Đất của bà C có lối đi lên hướng bắc qua hai thửa đất 2609, 2610 của ông T5 rất thuận tiện và lối đi này có chiều ngang trên 3m. Bà C cho rằng không có lối đi này và bà C chưa từng đi lối này là không đúng thực tế, vì Tòa án khu vực đã phối hợp với địa chính xã đi xác minh hiện trạng thực tế và đã được lập biên bản có chính quyền địa phương ký xác nhận. Bà C, ông T1, ông M1, bà N1, chị V1 cho rằng trước đây có lối đi qua đất của ông C1 bà M theo sơ đồ mở lối đi do bà C yêu cầu là không đúng thực tế, đây chỉ là lối mòn len lỏi qua các hàng cây cao su trên đất của ông C1, bà M và ông M1. Hơn nữa, yêu cầu mở lối đi của bà C không phù hợp với quy hoạch và lối đi này rất dài qua nhiều thửa đất không thuận tiện. Vì vậy, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà C.
Ông M1 do chị Triều đại D theo ủy quyền trình bày: hiện nay trên thửa đất 2626 của ông M1 có ngôi nhà cấp 4 do ông đang ở, hiện nay không có lối đi nào để đi ra đường công cộng nên ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C để có lối đi đi ra đường công cộng, bà C yêu cầu mở lối đi là có căn cứ.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về chấp hành pháp luật: Đơn kháng cáo cuả bà C, ông H trong thời hạn quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: qua nghiên cứu hồ sơ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bà C và ông H kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C và ông H, tuy nhiên bà C và ông H không cung cấp được chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà C và ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị C và ông Trần Đình H trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- [2] Về tư cách tham gia tố tụng của ông Trần Đình H: Án sơ thẩm nhập 2 vụ án thành 1 vụ án và xác định ông H vừa là nguyên đơn vừa là bị đơn trong vụ án là không phù hợp với quy định tại Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự, do đó cần xác định lại tư cách tham gia tố tụng của ông Trần Đình H là bị đơn có yêu cầu độc lập.
- [3] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm bà C có yêu cầu luật sư Đặng Minh Đ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C. Ngày 05/01/2026 luật sư Đ có đơn đề nghị xin hoãn phiên tòa xét xử vào ngày 08/01/2026 với lý do luật sư Đăng bị trùng lịch xét xử. Tuy nhiên, luật sư Đ không cung cấp được tài liệu nào để chứng minh luật sư có tham gia một phiên tòa khác trùng với lịch xét xử vào ngày 08/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Hơn nữa, phiên tòa ngày 08/01/2026
14
không phải lần đầu mà được mở lại theo quyết định hoãn phiên tòa số 442/2025/QĐ-PT ngày 22/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Vì vậy, hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu hoãn phiên tòa của luật sư Đặng Minh Đ.
- [4] Xét kháng cáo của bà C yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – chi nhánh T8 ký ngày 17/08/2023. Xét thấy:
[4.1] Bà C yêu cầu ông C1, bà M phải mở lối đi có diện tích 1.100m² nhưng qua đo đạc thực tế chỉ còn diện tích 529,1m², bà C rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 570,9m². Do đó, cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà C đã rút là phù hợp Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4.2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị C yêu cầu bà M phải mở lối đi qua thửa đất 2582, 2584 tờ bản đồ 10 (Bản đồ 299); Thửa mới là 22, 20 tờ số 58; diện tích phần lối đi yêu cầu mở lấn lượt là 67,3m² và 343,3m², phần lối đi qua thửa 2582 không có tài sản trên đất, phần lối đi qua thửa 2584 trên đất có 17 cây cao su 35 năm tuổi. Hai thửa đất trên bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 00564QSDĐ/A9, ngày 20/6/1995.
[4.3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị C yêu cầu ông Hồ Văn C1 phải mở lối đi qua thửa đất 2682 tờ bản đồ 10; Thửa mới là 17 tờ số 58; diện tích phần lối đi yêu cầu mở là 523,6m² + 5,5m², trên lối đi này có tài sản là 20 cây cao su 17 năm. Thửa đất này ông Hồ Văn C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H01913 cấp ngày 06/06/2007.
[4.4] Như vậy, lối đi bà C yêu cầu mở qua thửa đất 2582, 2584 tờ bản đồ 10 của bà M và thửa đất 2682 tờ bản đồ số 10 của ông C1 trên phần lối đi này có nhiều cây cao su do bà M và ông C1 trồng được 35 năm và 17 năm. Do đó, bà C, ông T1, ông M1, bà N1 cho rằng trước đây đã có tồn tại lối đi đi qua thửa đất của ông C1, bà M theo sơ đồ hiện trạng nêu trên là không đúng thực tế, nếu đã tồn tại lối đi này từ trước đến nay thì không có lý do gì trên lối đi lại có cây trồng lâu năm (35 năm và 17 năm) của ông C1 và bà M.
[4.5] Tại Công văn số 2428/UBND-PTNMT ngày 02/10/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T trả lời như sau:
“Theo tờ bản đồ số 10 (hệ thống bản đồ 299), thửa số 2606, 2608 từ đường đất đi vào đất của bà Nguyễn Thị C đặt tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và trên hệ thống bản đồ địa chính chính quy không có thể hiện con đường.
Các thửa số 2608, 2971, 2977, 2970, 3264, 1830, 1835, 1836, 2576, 2577, 2578, 2580, 2581, 2829, 2582, 2584, 1834, 3217, 3216, 2626, 2605 tờ bản đồ số 10; tổng diện tích 275.563,4m² đất tọa lạc tại tổ C, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh không có quy hoạch đường. Việc xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại tuyến đường so với các hệ thống bản đồ trước đây phải căn cứ trên các quy định của pháp luật”.
Mặt khác, theo biên bản làm việc ngày 23/6/2025 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T8 thể hiện: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 không quy hoạch đường giao thông.
15
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định tờ bản đồ số 10, hệ thống bản đồ 299 và hệ thống bản đồ chính quy thì từ đường đất đi vào đất của bà C tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp E, xã T, tỉnh Tây Ninh) không có thể hiện con đường.
- [4.6] Theo khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự quy định điều kiện để được mở lối đi qua bất động sản liền kề:
“Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi”.
- [4.7] Theo quy định nêu trên thì việc mở lối đi qua bất động sản liền kề phải hợp lý nhất và thuận tiện nhất. Tuy nhiên, lối đi bà C yêu cầu mở không chỉ cắt ngang qua thửa đất của ông C1, bà M mà còn qua nhiều thửa đất khác như đất của ông T1, ông M1, bà N1 và lối này rất dài (được thể hiện theo sơ đồ hiện trạng thì độ dài tổng cộng là 594,4, rộng 5,5, diện tích đất yêu cầu mở lối đi là 3.269,2m²) làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân và an ninh trật tự tại địa phương. Như vậy, lối đi bà C yêu cầu mở không đảm bảo về tính “thuận tiện và hợp lý nhất” theo quy định tại Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời bà M và ông C1 không đồng ý cho bà C mở lối đi qua các thửa nêu trên bởi vì mở lối đi như vậy sẽ chia cắt các thửa đất và gây khó khăn cho việc sử dụng đất của bà M và ông C1 và xuyên qua nhiều thửa đất và nhiều hộ gia đình khác.
- [4.8] Qua xác minh tại địa phương, sơ đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ địa chính thể hiện tính từ vị trí đất của bà C để đi ra con đường có trên hệ thống bản đồ thì chỉ cần qua thửa đất số 2609 và 2610, tờ bản đồ số 10 của ông Bùi Văn T5 (bút lục 84) mà không cần thiết phải mở đường đi qua nhiều thửa đất như yêu cầu của bà C. Hơn nữa, yêu cầu mở lối đi của bà C không phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 tại địa phương (theo biên bản làm việc ngày 23/6/2025 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T8).
- [4.9] Việc ông H, bà N1, chị V, ông M1, ông T1 đồng ý cho bà C mở lối đi qua đất của ông H, bà N1, chị V, ông M1, ông T1, tuy nhiên như trên đã phân tích lối đi này không thuận tiện và không hợp lý, đồng thời không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 tại địa phương. Do đó, việc thỏa thuận về lối đi của ông H, bà N1, chị V, ông M1, ông T1 với bà C là trái với quy định của pháp luật và ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông C1 và bà M.
- [4.10] Từ những nhận định, phân tích trên xét thấy án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C là có căn cứ, bà C kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không chấp nhận kháng cáo của bà C.
16
- [5] Xét kháng cáo của ông H yêu cầu ông Hồ Văn C1, bà Hồ Thị M và ông Hồ Văn B tháo dỡ hàng rào (15 trụ bê tông đúc sẵn cao 2m, móng rào kết cấu xây gạch tô dày 10 cm) để khôi phục lại hiện trạng con đường theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, trả lại phần diện tích đã lấn chiếm là 112,9m², có tứ cận: Hướng Đông giáp đường tranh chấp dài 43,38m; Hướng Tây giáp ranh đất của bà M dài 43,66m; Hướng Nam giáp đường S-16 dài 1,96m; Hướng Bắc giáp thửa 3217 dài 3,24m; Theo chứng thư định giá và được các đương sự thống nhất ngày 13/8/2024: Tài sản trên đất: 15 trụ xi măng + móng hàng rào kết cấu xây gạch tô, dày 10cm: giá trị: 3.036.486đồng; 17 cao su cây cao su 03 năm tuổi. Xét thấy:
[5.1] Theo biên bản làm việc ngày 23/6/2025 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T8 thể hiện:
“Theo hệ thống bản đồ chính quy có thể hiện con đường đất đi vào đất của ông Trần Đình H tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 không quy hoạch đường giao thông.
Sơ đồ hiện trạng không thể hiện mà ghi chú là đường đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H là dọ sơ đồ hiện trạng mô tả hiện trạng tại thời điểm đo đạc so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Mặt khác, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H cấp theo bản đồ 299 có đo đạc hiện trạng khi nhận chuyển quyền sử dụng đất của ông Trần Văn M3 vào tháng 01/2018 không phải cấp theo bản đồ lưới chính quy nên không phải là con đường trên bản đồ chính quy”.
[5.2] Thửa đất 3216, 3217 tờ bản đồ số 10, hệ thống bản đồ 299 của ông H không thể hiện đường. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H có đo đạc hiện trạng khi nhận chuyển quyền sử dụng đất của ông Trần Văn M3 vào tháng 01/2018 không phải cấp theo bản đồ lưới chính quy; Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 không có quy hoạch đường giao thông. Căn cứ vào Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất cho thấy: Phần ranh đất hiện trạng của bà M, ông H sử dụng đất ít hơn so với bản đồ chính quy. Phần đất ít hơn này là phần con đường mà ông H đang sử dụng. Tại phiên tòa người đại diện của bà M trình bày giấy chứng nhận của ông H cấp là do ông H tự đi làm bà M không ký giáp ranh, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M phía Đông giáp đất ông M3 (cha ông H – hiện nay thửa đất này do ông H đứng tên) không phải giáp đường như giấy chứng nhận của ông H cung cấp, lời trình bày của người đại diện của bà M phù hợp với chứng cứ mà Tòa án đã thu thập ở trên. Vì vậy, ông H căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp yêu cầu bà M tháo dở hàng rào trả đất là không có cơ sở.
[5.3] Theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất thể hiện thửa đất 3216, 3217 của ông H tiếp giáp đường TV-16 sỏi đỏ, không bị vây bọc bởi thửa đất 2582 của bà M. Do đó, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông H là có căn cứ. Ông H kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ nào mới, vì vậy không chấp nhận kháng cáo của ông H.
- [6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà C, ông H không được chấp nhận nên bà C, ông H mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên bà C được miễn án phí theo Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 29, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
17
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị C;
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Đình H;
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 167/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị C được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Trần Đình H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0008880 ngày 22/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Phúc |
Bản án số 20/2026/DS-PT ngày 08/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề
- Số bản án: 20/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị C - yêu cầu mở lối đi - Trần Đình H
