Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T

THÀNH PHỐ H

Bản án số: 172/2022/HSST Ngày 26/10/2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Mai

Ông Hoàng Văn Long

  • Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 162/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Phạm Văn N, sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn xxx, xã V, huyện T, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Bá N và con bà Chử Thị T; Vợ: Nguyễn Thị Thùy D (đã ly hôn); Con: có 02 con sinh năm 2010 và 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. (Có mặt tại phiên tòa ).

* Bị hại: Chị Lưu Việt A, sinh năm 1984 HKTT: Thôn L, xã N, huyện T, thành phố H

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Néi dung vô ¸n:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/5/2022, Phạm Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29V3 – 237 đi đến cửa hàng xăng dầu xxx thuộc thôn L, xã

N, huyện T, thành phố H để mua xăng. Trong lúc đổ xăng, N phát hiện thấy túi áo phía trước bên trái của chị Lưu Việt Á là nhân viên bán xăng của cửa hàng xăng dầu xxx có để tiền, không cài túi áo. Lợi dụng sơ hở, N đã dùng tay trái trộm cắp 2.600.000 đồng được bọc bên ngoài bằng tờ giấy trắng ở trong túi áo của chị Á và cất vào túi quần bên trái của mình. Sau đó, N điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường gần điểm dừng xe buýt (gần cửa hàng xăng xxx) thì N dừng xe và kiểm tra thấy bên trong cuộn giấy trắng có 2.600.000 đồng (13 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng). Số tiền trộm cắp trên, N đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 26/7/2022, Phạm Văn N đến cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã tạm giữ của Phạm Văn N:

  • 01 (một) áo phông cộc tay màu trắng ghi, bên ống tay áo trái có dòng chữ LACOSTE, phần ngực trái có hình con cá sấu, cũ, đã qua sử dụng;

  • 01 (một) quần bò dài màu xanh bạc, cặp quần phía sau có dòng chữ LOEWE, cũ, đã qua sử dụng;

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29V3 – 237 là tài sản của chị Phạm Thị Kim T (sinh năm: 1971, HKTT: thôn xxx xã V, huyện T, H). Chị T cho Phạm Văn N mượn để làm phương tiện đi lại, không biết việc N trộm cắp tài sản. Sau khi N trả lại xe cho chị T, do cần tiền, chị T đã bán chiếc xe trên người không quen biết.

Về dân sự: Phạm Văn N và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho chị Lưu Việt Á số tiền 2.600.000 đồng. Chị Á đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKS-TT ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, xác định hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng. Đồng thời, đại diện VKS cũng đã đánh giá tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Văn N từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 12 đến 16 tháng. Miễn hình phạt bổ sung và tiêu hủy 01 áo phông, 01 quần bò đã thu giữ của bị cáo.

Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Văn N thừa nhận cáo trạng của VKS truy tố bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị tiêu hủy 01 áo phông cộc tay màu trắng ghi và 01 quần bò màu xanh của bị cáo. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật,

bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHËN ÐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2]. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 30/5/2022, tại cửa hàng xăng dầu xxx thuộc thôn L, xã N, huyện T, thành phố H, bị cáo Phạm Văn N đã thực hiện hành vi lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chị Lưu Việt Á để lén lút chiếm đoạt của chị Lưu Việt Á số tiền 2.600.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý hình sự và áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo để giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải và ra đầu thú, bị cáo đã trả lại tiền cho người bị hại, người bị hại đã có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên xác định có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51, khoản 2

điều 51 Bộ luật hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ giáo dục và cải tạo bị cáo. Giao cho chính quyền và gia đình theo dõi giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường trả chị Á 2.600.000 đồng. Chị Á đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì khác về mặt dân nên Tòa không xét.

  1. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29V3 – 237 là tài sản của chị Phạm Thị Kim T. Chị Toan cho Phạm Văn N mượn để làm phương tiện đi lại, không biết việc N trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

  2. Về xử lý tang vật: Đối với 01 áo phông cộc tay, 01 quần bò màu xanh bạc đã thu giữ của bị cáo không có giá trị sử dụng và bị cáo đề nghị tiêu hủy nên cho tiêu hủy.

9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QuyÕT §ỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Văn N cho UBND xã V, huyện T, thành phố H và gia đình giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp bị cáo Phạm Văn N thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 67 luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Tiêu hủy của bị cáo 01 áo phông cộc tay màu trắng ghi, ống tay áp bên trái có dòng chữ LACOSTE; 01 quần bò màu xanh bạc phía sau có dòng chữ LOEWE

(Toàn bộ số tang vật nêu trên được lưu kho của Chi cục thi hành án dân sự huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 10 năm 2022)

Bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân TP H;

  • Viện kiểm sát ND TP H;

  • Viện KSND huyện T;

  • Công an huyện T;

  • Chi cục THADS huyện T;

  • Sở tư pháp H;

  • Trại giam H;

  • Thi hành án hình sự;

  • UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;

  • Bị cáo; Bị hại;

  • Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2022/HSST ngày 26/10/2022 của TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội

  • Số bản án: 172/2022/HSST
  • Quan hệ pháp luật:
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/10/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N - trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger