Vi phạm quy định về chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động ?

Ngày gửi: 20/08/2020 lúc 09:48:13

Mã số: LD151

Câu hỏi:

Chào luật sư. Luật sư tư vấn giúp em ạ, Em làm việc trong công ty của Nhật. Em vào làm từ 05-01-2015. Trong đó có 2 tháng thử việc. Sau khi hết 2 tháng thử việc công ty ký hợp đồng 1 năm với em trên hợp đồng ký có ghi là ngày bắt đầu là ngày em vào thử việc có nghĩa là tính luôn thời gian thử việc vào thời gian hợp đồng chính thức. Em định đến ngày 05-01-2016 tới nghỉ việc khi hết hạn hợp đồng. Nhưng hôm này 30-12-2015 em viết đơn xin nghỉ thì công ty bảo em không báo trước một tháng. Lên cho nghỉ luôn. Vậy cho em hỏi công ty hay em có sai gì không ạ? Và em có nhận được đầy đủ tháng lương cuối không và cả tiền thưởng tết dương lich và nhưng khoản trợ cấp khác không ạ? Và em đươc nhận nhưng khoản trợ cấp gì ạ? Em phải đóng đầy đủ tiền bảo hiểm luôn từ cả 2 tháng thử việc đến giờ la 12 tháng đóng bảo hiểm.

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Thứ nhất: Về chấm dứt hợp đồng lao động.

Như thông tin mà bạn đã trình bày thì ngày 30-12-2015 bạn viết đơn xin nghỉ thì công ty bảo em không báo trước một tháng, lên cho nghỉ luôn. Hành vi của công ty có thể được coi là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Bởi bạn mới viết đơn xin nghỉ chứ chưa nghỉ việc tại công ty mà công ty đã cho bạn ngừng việc hẳn. Như vậy là vi phạm quy định của pháp luật.

Hậu quả pháp lý của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật được quy định tại điều 42 BLLĐ 2012, theo đó:

Người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc và bồi thường các khoản tiền tương ứng với thiệt hại phát sinh.

Trường hợp người lao động đồng ý tiếp tục công việc, người sử dụng lao động phải trả tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội và tiền bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc (sau đây gọi tắt là tiền lương và tiền bảo hiểm) cùng với ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Nếu công việc hoặc vị trí được giao kết trong hợp đồng lao động đã không còn, người sử dụng lao động sẽ phải bồi thường tiền lương và tiền bảo hiểm cho người lao động. Đồng thời, người sử dụng lao động phải thương lượng với người lao động để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp người lao động không đồng ý tiếp tục công việc, ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải bồi thường tiền lương, tiền bảo hiểm và trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. người sử dụng lao động còn phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động theo đúng quy định.

Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và được sự đồng ý của người lao động (bắt buộc), người sử dụng lao động sẽ bồi thường số tiền tương tự như trường hợp người lao động không đồng ý tiếp tục công việc nêu trên.

Đồng thời, người sử dụng lao động phải bồi thường thêm một khoản tiền do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất bằng 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động bị vi phạm.

Trường hợp người sử dụng lao động vi phạm thời hạn báo trước việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường cho người lao động khoản tiền lương tương ứng với những ngày không được báo trước.

Thứ hai: Về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;

2. Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;

3. Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định kể từ ngày nộp hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp. .

4. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

Trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, NLĐ nộp hồ sơ tại trung tâm dịch vụ việc làm để được hưởng trợ cấp.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam

Lưu ý: Nội dung tư vấn của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy vào từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách hay quy định mới của pháp luật.

Gửi yêu cầu tư vấn

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM