Truy cứu trách nhiệm hình sự khi phạm tội tại Lào

Ngày gửi: 12/02/2018 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL40970

Câu hỏi:

Tháng 9/2013, Chú của tôi là công dân Việt Nam đi du lịch tại Lào đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân Lào số tiền 10 ngàn USD (khoảng hơn 210 triệu VNĐ) nhưng cơ quan tư pháp của Lào không biết. Sau khi về Việt Nam, các hành vi phạm tội nêu trên của chú bị phát hiện và bắt giữ. Luật sư có thể cho tôi hỏi Tội giết người và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chú tôi thực hiện tại Lào có thể bị truy cứu TNHS theo luật hình sự Việt Nam không? Mức hình phạt ra sao?

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Nếu chú bạn là  công dân Việt Nam bình thường thì chú bạn có thể bị truy cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thực hiện tại Lào theo quy định Bộ luật hình sự 1999:

Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 quy định về khái niệm tội phạm như sau:

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.”

Căn cứ theo quy định tại Điều 6 Bộ luật hình sự 1999:

“1. Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này.

Qui định này cũng được áp dụng với người không quốc tịch thường trú ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam."

Khoản 1 Điều luật đề cập đến hiệu lực của bộ luật hình sự đối với hành vi ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Theo nguyên tắc quốc tịch công dân Việt Nam có nghĩa vụ tuân theo pháp luật Việt Nam, không những khi họ đang ở trong nước, mà cả khi họ ở nước ngoài. Vì vậy nếu công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam, trên lãnh thổ nước ngoài, thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự 1999, dù họ đã hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự trên lãnh thổ của nước ngoài đó là xuất phát từ nguyên tắc quốc tịch. Tất nhiên là công dân Việt Nam chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi do họ thực hiện được Bộ luật hình sự 1999 nêu ra là một hành vi phạm tội và phải bị trừng phạt về mặt hình sự.

Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định cụ thể về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 19006568

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, chú của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm a Khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009. Theo đó, chú bạn của bạn sẽ bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

Ngoài ra, chú bạn còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật tại Lào nếu như có văn bản yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự của Việt Nam tới Lào. Bởi theo quy định tại Điều 54 Hiệp định tương trợ tư pháp dân sự và hình sự giữa Việt Nam vào Lào về nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự như sau: 

"1. Nước ký kết này có nghĩa vụ thực hiện yêu cầu của Nước ký kết kia về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân của mình đã có hành vi phạm pháp trên lãnh thổ của Nước ký kết yêu cầu, phù hợp với pháp luật của nước mình.

Khi có yêu cầu của Nước ký kết, Nước ký kết được yêu cầu có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết để tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân của Nước ký kết yêu cầu đã phạm pháp và có mặt trên lãnh thổ của Nước ký kết được yêu cầu.

2. Văn bản yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự của người bị hại được gửi đến cơ quan có thẩm quyền theo thể thức đã được quy định trong pháp luật của Nước ký kết này sẽ có giá trị pháp luật trên lãnh thổ của Nước ký kết kia.

3. Người bị hại trong vụ án hình sự có quyền chống án hình sự tại các Toà án của Nước ký kết như công dân của Nước ký kết có Toà án tiến hành xét xử hình sự."

Theo đó, chú bạn còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành được quy định tại Lào.

Bạn có thể tham khảo thêm một số bài viết có liên quan khác của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam:               

– Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

– Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng

Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì liên quan đến sự việc bạn có thể liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 19006568 để được giải đáp.

——————————————————–

THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam:

– Tư vấn luật hình sự trực tuyến miễn phí qua điện thoại

– Tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến miễn phí

Các trường hợp loại trừ, không phải chịu trách nhiệm hình sự

– Luật sư tư vấn luật trực tuyến qua tổng đài

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam