Đóng bảo hiểm ngắt quãng có được hưởng chế độ thai sản không?

Ngày gửi: 20/08/2020 lúc 09:48:13

Mã số: LD205

Câu hỏi:

Chào luật sư! Hiện tại tôi đang mang thai tháng thứ 6 và dự kiến sinh vào cuối tháng 7/2016. Tôi đã đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 9/2013 đến tháng 2/2015. Sau một năm tôi không đóng bảo hiểm xã hội và đến tháng 3/2016 tôi mới nối sổ đóng tiếp bảo hiểm xã hội. Tôi đóng bảo hiểm xã hội như vậy thì có được hưởng chế độ thai sản không? Mong luật sư tư vấn giúp, tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.

Bảo hiểm xã hội bắt buộc có các chế độ sau đây:

- Ốm đau;

- Thai sản;

- Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- Hưu trí;

- Tử tuất.

Đối với trường hợp hưởng chế độ thai sản, Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội 2014 thì điều kiện để hưởng chế độ thai sản bao gồm:


1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
...
b) Lao động nữ sinh con;
....
2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Như vậy để được hưởng chế độ thai sản khi sinh con bạn cần đáp ứng điều kiện đóng đủ bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Về cách xác định hời gian 12 tháng trước khi sinh con, tại khoản 1 Điều 9 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn như sau:

1. Thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được xác định như sau:

a) Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

b) Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có đóng bảo hiểm xã hội, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Trường hợp tháng đó không đóng bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này.

Theo như bạn trình bày, bạn dự tính sinh vào cuối tháng 7/2016 và giả sử tháng 7/2016 bạn tham gia bảo hiểm xã hội, thời gian 12 tháng trước khi sinh con của bạn được tính từ tháng 8/2015 đến tháng 7/2016. Bạn tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 9/2013 đến tháng 2/2015, sau đó ngừng đóng 1 năm, cho đến tháng 3/2016 mới tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội. Như vậy, trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con (từ tháng 8/2015 đến tháng 7/2016) bạn đã đóng bảo hiểm xã hội trong các tháng sau: 7/2016, 6/2016, 5/2016, 4/2016 và tháng 3/2016, nghĩa là bạn đóng bảo hiểm xã hội được 5 tháng.

Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội 2014, bạn không đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản khi sinh con. Tuy nhiên nếu tại thời điểm bạn sinh con mà chồng bạn đang đóng bảo hiểm xã hội, chồng bạn sẽ được hưởng chế độ thai sản của lao động nam có vợ sinh con bao gồm:

- Nghỉ hưởng chế độ thai sản 5 ngày làm việc hoặc 7 ngày làm việc nếu bạn sinh con phải phẫu thuật.

- Trợ cấp một lần khi sinh con bằng 2 tháng lương cơ sở tại thời điểm bạn sinh con.

Nếu chồng bạn thuộc trường hợp trên, sau khi bạn sinh con, chồng bạn có thể nộp hồ sơ giấy tờ tại đơn vị chồng bạn đang làm việc để được giải quyết.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam

Lưu ý: Nội dung tư vấn của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy vào từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách hay quy định mới của pháp luật.

Gửi yêu cầu tư vấn

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH