Dự trữ quốc gia giữ vai trò đặc biệt trọng yếu đối với an ninh kinh tế, an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội của đất nước, đặc biệt trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh hay biến động chiến lược. Để kịp thời ghi nhận trách nhiệm nặng nề cũng như tính chất công việc đặc thù, chế độ đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác bảo quản, thủ kho và quản lý dự trữ luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc. Vậy mức phụ cấp ưu đãi nghề đối với người làm công tác dự trữ quốc gia hiện nay được xác định ra sao và những trường hợp nào sẽ không được chi trả khoản phụ cấp này?
Mức phụ cấp ưu đãi nghề dự trữ quốc gia hiện nay là bao nhiêu?
Căn cứ theo quy định tại Điều 26 Nghị định 345/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Dự trữ quốc gia 2025, người làm công tác dự trữ quốc gia được áp dụng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề theo 02 mức cụ thể: mức 25% và mức 15%.
Việc phân định mức hưởng được căn cứ chặt chẽ vào vị trí việc làm và tính chất công việc trực tiếp hay gián tiếp theo khoản 1 Điều 26 Nghị định 345/2026/NĐ-CP:
- Mức phụ cấp ưu đãi 25%: Áp dụng đối với những người trực tiếp làm công tác dự trữ quốc gia tại các đơn vị thực hiện nhiệm vụ dự trữ quốc gia theo quyết định của các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đây là nhóm nhân sự trực tiếp làm việc tại hiện trường, nhà kho, thực hiện quy trình kỹ thuật nhập, xuất, đảo hàng và bảo quản thường xuyên các mặt hàng chiến lược trong môi trường đòi hỏi sự nghiêm ngặt về quy chuẩn kỹ thuật.
- Mức phụ cấp ưu đãi 15%: Áp dụng đối với người làm công tác dự trữ quốc gia thuộc cơ quan quản lý dự trữ quốc gia và đơn vị thực hiện dự trữ quốc gia thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trừ các trường hợp trực tiếp hưởng mức 25% nêu trên). Nhóm này chủ yếu đảm nhiệm khâu chỉ đạo điều hành, tham mưu chính sách, tổng hợp kế hoạch và phân bổ nguồn lực dự trữ.
Cần lưu ý rằng các mức phụ cấp ưu đãi nêu trên được tính trên mức lương hiện hưởng theo ngạch, bậc, cấp hàm, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phần phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).
Công thức tính chi trả phụ cấp ưu đãi nghề dự trữ quốc gia hằng tháng
Khoản phụ cấp ưu đãi nghề không phải là một mức tiền cố định mà phụ thuộc trực tiếp vào ngạch bậc, thâm niên và mức lương cơ sở hiện hành. Căn cứ theo khoản 2 Điều 26 Nghị định 345/2026/NĐ-CP, công thức tính mức tiền phụ cấp chi trả mỗi tháng được xác định như sau:
Mức tiền phụ cấp ưu đãi nghề = [Hệ số lương hiện hưởng theo ngạch, bậc, cấp hàm + Hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo + % (quy theo hệ số) phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có)] × Mức lương cơ sở × Mức % phụ cấp ưu đãi được hưởng (15% hoặc 25%).
Ví dụ minh họa thực tế:
Ông Nguyễn Văn A là cán bộ kỹ thuật trực tiếp phụ trách bảo quản kho lương thực dự trữ nhà nước tại một Chi cục Dự trữ Nhà nước (hưởng mức ưu đãi 25%). Hiện tại, ông A đang xếp lương công chức ngạch chuyên viên với hệ số lương là 3,66, không giữ chức vụ lãnh đạo và chưa hưởng thâm niên vượt khung. Với mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng, số tiền phụ cấp ưu đãi nghề hằng tháng của ông A được tính như sau:
Tiền phụ cấp hằng tháng = 3,66 × 2.340.000 đồng × 25% = 2.141.100 đồng/tháng.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định rõ ràng về nguyên tắc chi trả:
- Nguyên tắc không hưởng trùng phụ cấp: Theo khoản 3 Điều 26 Nghị định 345/2026/NĐ-CP, người làm việc tại đơn vị dự trữ nếu đồng thời thuộc diện hưởng phụ cấp đặc thù có cùng tính chất hoặc phụ cấp cùng loại khác thì chỉ được lựa chọn hưởng một loại phụ cấp có mức hưởng cao nhất.
- Cơ chế chi trả và tính đóng bảo hiểm: Khoản phụ cấp ưu đãi nghề được cơ quan, đơn vị chi trả cùng kỳ lương hằng tháng. Đặc biệt, khoản tiền này không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp theo khoản 4 Điều 26 Nghị định 345/2026/NĐ-CP.
Điều kiện hưởng và 7 trường hợp không được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề
Theo Điều 25 Nghị định 345/2026/NĐ-CP, đối tượng đủ điều kiện hưởng phụ cấp gồm cán bộ, công chức làm việc tại cơ quan quản lý dự trữ quốc gia hoặc tại các đơn vị thực hiện nhiệm vụ dự trữ quốc gia thuộc bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Tuy nhiên, nhằm đảm bảo phụ cấp gắn liền với thực tế thực hiện nhiệm vụ, khoản 3 Điều 25 Nghị định 345/2026/NĐ-CP đã liệt kê chi tiết 7 khoảng thời gian người lao động tuyệt đối không được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề, bao gồm:
- Thời gian nghỉ hưu, nghỉ chờ hưu, thôi việc, nghỉ việc, xuất ngũ, chuyển sang làm công tác khác hoặc thuyên chuyển công tác sang cơ quan, đơn vị khác không còn làm công tác dự trữ quốc gia;
- Thời gian đi công tác, làm việc, học tập ở nước ngoài hưởng 40% tiền lương theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định 204/2004/NĐ-CP;
- Thời gian đi học tập trung trong nước từ 03 tháng liên tục trở lên;
- Thời gian nghỉ việc riêng không hưởng lương;
- Thời gian nghỉ ốm đau, thai sản hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;
- Thời gian bị đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử;
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Quy định này đòi hỏi bộ phận kế toán - tiền lương của các cơ quan quản lý kho dự trữ phải chủ động theo dõi sát sao bảng chấm công và tình trạng công tác của từng cán bộ để thực hiện cắt phụ cấp đúng thời điểm, tránh tình trạng chi trả sai quy định dẫn đến việc phải thu hồi kinh phí.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động dự trữ quốc gia cần đặc biệt lưu ý
Bên cạnh các quyền lợi về chế độ thù lao, người làm công tác dự trữ quốc gia phải gánh vác trách nhiệm pháp lý hết sức nghiêm ngặt nhằm bảo đảm khối tài sản dự trữ của Nhà nước luôn an toàn, sẵn sàng phục vụ các mục tiêu chiến lược. Căn cứ theo Điều 13 Luật Dự trữ quốc gia 2025, các hành vi sau đây bị pháp luật nghiêm cấm tuyệt đối:
- Lợi dụng vị trí công tác để trục lợi: Nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng việc nhập, xuất, mua, bán, bảo quản hoặc vận chuyển hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược nhằm vụ lợi cá nhân hoặc nhóm lợi ích.
- Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản công: Hành vi thiếu trách nhiệm hoặc cố ý làm trái các quy định về quản lý, quy chuẩn kỹ thuật bảo quản dự trữ quốc gia, dẫn đến hậu quả làm hàng hóa bị ẩm mốc, hư hỏng, hao hụt quá định mức, thất thoát hoặc lãng phí tài sản của Nhà nước.
- Can thiệp trái phép vào quy trình quản lý: Các hành vi cản trở, đe dọa, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra, kiểm tra, luân chuyển hoặc sử dụng hàng hóa dự trữ quốc gia.
- Sử dụng tài sản sai mục đích: Tự ý xuất cấp, điều động hoặc sử dụng hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược vào các mục đích không đúng với quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc trái quy định của Luật Dự trữ quốc gia 2025.
Định hướng chính sách của Nhà nước nhằm phát triển dự trữ quốc gia hiện đại
Để xây dựng hệ thống dự trữ quốc gia vững mạnh, thích ứng linh hoạt trước mọi tình huống biến động khẩn cấp của nền kinh tế và an ninh quốc tế, Điều 4 Luật Dự trữ quốc gia 2025 khẳng định những chính sách trọng điểm của Nhà nước bao gồm:
- Xây dựng chiến lược dự trữ quốc gia và quy hoạch tổng thể hệ thống kho hiện đại, phân bố khoa học, đồng bộ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
- Quản lý dự trữ theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, kết hợp phân công, phân cấp hợp lý, rõ ràng giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương.
- Tích hợp hiệu quả nguồn lực dự trữ quốc gia trong các chiến lược về quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, tài chính, năng lượng, lương thực và an sinh xã hội; chủ động dự báo, nắm bắt tình hình để sẵn sàng các phương án dự phòng.
- Đẩy mạnh cơ chế huy động các nguồn lực xã hội, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia vào hoạt động cung ứng, dịch vụ kho bãi và bảo quản hàng dự trữ.
- Đặc biệt ưu tiên đầu tư nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý, giám sát tự động hệ thống kho tàng dự trữ trên toàn quốc.
- Chủ động tăng cường hợp tác quốc tế, chia sẻ nguồn lực dự trữ cứu trợ khẩn cấp, góp phần khẳng định vị thế và bảo vệ vững chắc lợi ích, chủ quyền quốc gia.
Như vậy, các quy định mới về phụ cấp ưu đãi nghề từ 15% đến 25% theo Nghị định 345/2026/NĐ-CP đã tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc, giúp cải thiện thu nhập và động viên kịp thời đội ngũ cán bộ ngành dự trữ quốc gia, đồng thời gắn liền trách nhiệm với kỷ luật công vụ trong việc quản lý, bảo vệ nguồn tài sản dự trữ chiến lược của Tổ quốc.