Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
Trong bối cảnh cải cách tư pháp mạnh mẽ vào năm 2026, việc đảm bảo tính khách quan và minh bạch trong quá trình tố tụng hình sự trở thành ưu tiên hàng đầu. Theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được cụ thể hóa nhằm tránh tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Cụ thể, việc thay đổi người tiến hành tố tụng khi phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát được thực hiện nghiêm ngặt như sau:
- Đối với cấp địa phương và khu vực: Nếu Thủ trưởng Cơ quan điều tra (cấp huyện, tỉnh hoặc quân sự khu vực) thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo Điều 49 và Điều 51 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, vụ án sẽ được chuyển lên Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp.
- Đối với cấp Trung ương: Quyền quyết định giao Phó Thủ trưởng tiến hành tố tụng thuộc về Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao tùy theo hệ thống cơ quan quản lý.
"Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát có thẩm quyền, thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra... phải ra quyết định thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; nếu không nhất trí thì phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do."
Cơ chế giám sát chéo giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên
Một điểm mới đáng chú ý là quyền hạn của Kiểm sát viên trong việc yêu cầu thay đổi Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra. Nếu nhận thấy có dấu hiệu không khách quan, Kiểm sát viên có quyền trao đổi trực tiếp hoặc gửi văn bản yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng. Điều này đảm bảo rằng mọi hành vi tố tụng đều được kiểm soát chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị can và các đương sự.
Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát thuộc diện phải thay đổi theo Điều 52 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Viện kiểm sát cấp trên sẽ trực tiếp can thiệp để phân công người thay thế, đảm bảo hoạt động công tố không bị gián đoạn.
Hướng dẫn khởi tố bị can trong trường hợp phạm nhiều tội
Việc xác định số lượng quyết định khởi tố khi một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội thường gây lúng túng trong thực tiễn. Điều 9 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP đã đưa ra các hướng dẫn hết sức chi tiết:
1. Nhiều hành vi cùng một tội danh
Nếu bị phát hiện cùng lúc, cơ quan chức năng chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án và 01 quyết định khởi tố bị can cho tất cả các hành vi đó. Ví dụ, một đối tượng thực hiện 5 vụ trộm cắp trong 3 tháng đầu năm 2026 và bị bắt cùng lúc thì chỉ cần một bộ hồ sơ khởi tố duy nhất về tội "Trộm cắp tài sản".
2. Nhiều hành vi khác tội danh
Trong trường hợp một người thực hiện nhiều tội danh khác nhau (ví dụ: vừa Giết người vừa Cướp tài sản), quyết định khởi tố phải ghi rõ từng tội danh và các điều khoản tương ứng của Bộ luật Hình sự 2015. Điều này giúp cá nhân hóa trách nhiệm hình sự một cách chính xác ngay từ giai đoạn đầu.
3. Tội phạm liên quan hoặc tội phạm chính
Nếu các hành vi phạm tội có liên quan mật thiết (hành vi trước là tiền đề cho hành vi sau), cơ quan điều tra cũng chỉ ra một quyết định chung nhưng liệt kê đầy đủ tội danh. Đặc biệt, nếu vụ án thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan điều tra khác nhau (An ninh và Cảnh sát), các bên phải thống nhất xác định tội phạm chính để giao cho cơ quan có thẩm quyền phù hợp nhất tiến hành điều tra toàn bộ vụ án.
Những quy định mới này không chỉ giúp tinh gọn thủ tục hành chính trong tố tụng mà còn nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan người vô tội trong kỷ nguyên pháp luật mới từ năm 2026.