Trong một động thái nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trương Chí Trung vừa ký ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về chính sách thuế đối với lĩnh vực này. Theo đó, hoạt động xuất khẩu lao động chính thức được công nhận là một loại hình dịch vụ xuất khẩu, mở đường cho việc áp dụng các ưu đãi thuế cao nhất.
Khẳng định vị thế của dịch vụ xuất khẩu lao động
Theo tinh thần chỉ đạo mới nhất từ Bộ Tài chính, hoạt động xuất khẩu lao động giờ đây được đối xử bình đẳng như các hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ khác. Căn cứ vào quy định tại Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2003 và Nghị định 158/2003/NĐ-CP, việc xác định rõ bản chất dịch vụ xuất khẩu giúp các doanh nghiệp tháo gỡ được nhiều vướng mắc về thủ tục kê khai thuế bấy lâu nay.
Việc coi xuất khẩu lao động là hoạt động xuất khẩu dịch vụ không chỉ mang ý nghĩa về mặt thuật ngữ pháp lý mà còn trực tiếp tác động đến túi tiền của người lao động. Khi thuế suất được đưa về mức thấp nhất, chi phí cấu thành dịch vụ sẽ giảm xuống, tạo điều kiện cho nhiều lao động nghèo có cơ hội tiếp cận với thị trường việc làm quốc tế.
Ưu đãi thuế suất 0% và cơ chế hoàn thuế
Điểm mấu chốt trong hướng dẫn lần này là việc áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) 0% đối với hoạt động xuất khẩu lao động. Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này sẽ được hưởng quyền lợi khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào đối với các chi phí phục vụ cho hoạt động xuất khẩu.
"Mức thuế suất 0% đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, kể cả hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng xuất khẩu..." - Trích khoản 1 Điều 8 Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2003.
Quy định này giúp doanh nghiệp giải phóng được nguồn vốn đọng lại ở khâu thuế đầu vào, từ đó có thêm nguồn lực để đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo và tìm kiếm các thị trường lao động tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan.
Miễn thuế cho các hoạt động hỗ trợ trực tiếp
Bên cạnh ưu đãi về thuế suất 0%, Bộ Tài chính cũng làm rõ diện không chịu thuế GTGT đối với các hoạt động phụ trợ. Cụ thể, các khâu như đào tạo, dạy nghề, tuyển chọn lao động phục vụ mục đích xuất khẩu cũng được xếp vào diện không chịu thuế GTGT. Đây là sự cụ thể hóa quy định về đối tượng không chịu thuế tại khoản 11 Điều 4 Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2003 về dạy học, dạy nghề.
Sự phân tách rõ ràng này giúp các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp xuất khẩu lao động yên tâm thực hiện các chương trình bồi dưỡng kiến thức, ngoại ngữ cho người lao động mà không phải lo lắng về các khoản thuế phát sinh thêm, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trên trường quốc tế.
Hiệu lực thi hành và tinh thần không truy thu
Một điểm đáng lưu ý khác trong văn bản của Thứ trưởng Trương Chí Trung là tính nhân văn và thực tế trong việc áp dụng pháp luật. Đối với các trường hợp doanh nghiệp đã thực hiện hoặc chưa thực hiện việc kê khai nộp thuế trước thời điểm có hướng dẫn này, cơ quan thuế sẽ không áp dụng biện pháp truy thu cũng như không thực hiện truy hoàn thuế.
Quy định này nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tránh những xáo trộn tài chính không đáng có do thay đổi cách hiểu và áp dụng chính sách. Đây được xem là một lời khẳng định về sự đồng hành của ngành tài chính đối với mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo thông qua con đường xuất khẩu lao động.
Với những hướng dẫn chi tiết tại Thông tư 120/2003/TT-BTC và các văn bản bổ sung, cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu lao động đang đứng trước vận hội mới để phát triển bền vững và chuyên nghiệp hơn trong tương lai.
(Theo Tuổi Trẻ - Tổng hợp và phân tích bởi hethongphapluat.com)