Tháng 3 năm 2020 đánh dấu một giai đoạn đầy biến động khi đại dịch Covid-19 bắt đầu lan rộng, gây ra những cú sốc kinh tế chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam. Hàng loạt chuỗi cung ứng bị đứt gãy, các cơ sở kinh doanh phải tạm dừng hoạt động, dẫn đến tình trạng dòng tiền của doanh nghiệp bị thắt chặt. Trong bối cảnh đó, vấn đề tiền lương trở thành nỗi lo canh cánh của cả người lao động lẫn người sử dụng lao động. Câu hỏi pháp lý quan trọng nhất lúc này là: Liệu ảnh hưởng của dịch Covid-19 có được coi là lý do chính đáng để công ty chậm trả lương cho nhân viên?
Nguyên tắc 'vàng' trong trả lương theo pháp luật lao động
Về nguyên tắc chung, quyền lợi về tiền lương của người lao động luôn được pháp luật bảo vệ một cách nghiêm ngặt. Theo quy định tại Điều 96 Bộ luật Lao động 2012, người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng hạn cho người lao động.
Tuy nhiên, pháp luật cũng dự phòng cho những tình huống đặc biệt mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được. Cụ thể, Điều 96 cũng nêu rõ:
"Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì được trả chậm không quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương."
Như vậy, việc nợ lương là CÓ THỂ nhưng phải đi kèm với những điều kiện khắt khe về thời gian và bồi thường tài chính.
Dịch Covid-19 có được coi là sự kiện bất khả kháng?
Để xác định doanh nghiệp có được quyền chậm trả lương hay không, cần phải đối chiếu xem dịch Covid-19 có thuộc trường hợp "lý do bất khả kháng" hay không. Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015:
"Sự kiện bất khả kháng là những sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép."
Chi tiết hơn trong lĩnh vực lao động, Điều 24 Nghị định 05/2015/NĐ-CP giải thích rằng các trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì được phép trả chậm.
Đặc biệt, tại khoản 2 Điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ-CP đã liệt kê rõ "dịch bệnh" là một trong những lý do bất khả kháng. Do đó, trong bối cảnh tháng 3/2020, dịch Covid-19 hoàn toàn đủ cơ sở để được xem xét là sự kiện bất khả kháng đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp.
Điều kiện để doanh nghiệp được nợ lương hợp pháp
Mặc dù Covid-19 là lý do bất khả kháng, nhưng không phải cứ có dịch là doanh nghiệp được mặc nhiên nợ lương. Để việc chậm trả lương là đúng luật, doanh nghiệp cần chứng minh được các yếu tố sau:
- Đã tìm mọi biện pháp khắc phục: Doanh nghiệp phải chứng minh đã nỗ lực xoay xở nguồn tài chính, cắt giảm các chi phí không cần thiết nhưng vẫn không đủ để trả lương đúng hạn.
- Thời gian chậm trả: Tuyệt đối không được quá 01 tháng. Nếu quá thời hạn này, doanh nghiệp sẽ vi phạm pháp luật lao động nghiêm trọng.
- Nghĩa vụ đền bù:
- Nếu chậm dưới 15 ngày: Không phải trả thêm tiền.
- Nếu chậm từ 15 ngày trở lên: Phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước công bố.
Lời khuyên cho người lao động và doanh nghiệp
Trong giai đoạn khó khăn này, sự thấu hiểu và chia sẻ giữa hai bên là vô cùng quan trọng. Doanh nghiệp nên chủ động đối thoại, công khai tình hình tài chính và thỏa thuận với công đoàn hoặc đại diện người lao động về phương án trả lương. Việc này không chỉ giúp tuân thủ đúng tinh thần của Bộ luật Lao động 2012 mà còn giữ chân được nhân sự nòng cốt để phục hồi sau dịch.
Về phía người lao động, nếu nhận thấy doanh nghiệp cố tình lợi dụng dịch bệnh để chây lầy việc trả lương mà không có lý do chính đáng, bạn có quyền yêu cầu can thiệp từ cơ quan thanh tra lao động hoặc khởi kiện ra Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Xem thêm: Mức xử phạt hành chính khi doanh nghiệp chậm trả lương nhân viên