Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp vào tháng 08/2021, việc tiêm chủng vắc xin được xem là giải pháp căn cơ để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, nhiều người dân vẫn băn khoăn về tính pháp lý của việc tiêm chủng: Liệu pháp luật có bắt buộc mọi cá nhân phải tiêm vắc xin Covid-19 hay không?
Quy định về tiêm chủng bắt buộc theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm
Theo Quyết định 447/QĐ-TTg năm 2020, dịch Covid-19 được công bố là bệnh truyền nhiễm nhóm A, mức độ nguy hiểm ở mức đại dịch toàn cầu. Đối với các bệnh truyền nhiễm, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm 2007 đã có những quy định rất cụ thể về việc sử dụng vắc xin.
Cụ thể, tại Điều 29 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm 2007 quy định:
1. Người có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch và đến vùng có dịch bắt buộc phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế đối với các bệnh có vắc xin, sinh phẩm y tế phòng bệnh.
2. Trẻ em, phụ nữ có thai phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc đối với các bệnh truyền nhiễm thuộc Chương trình tiêm chủng mở rộng.
3. Cha, mẹ hoặc người giám hộ của trẻ em và mọi người dân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ sở y tế có thẩm quyền trong việc sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc.
Như vậy, về mặt nguyên tắc, khi một khu vực đã được công bố là vùng dịch, cơ quan chức năng có thẩm quyền hoàn toàn có quyền yêu cầu người dân trong diện nguy cơ phải thực hiện tiêm chủng bắt buộc để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.
Vắc xin Covid-19 đã được đưa vào danh mục bắt buộc chưa?
Mặc dù Luật đã có khung pháp lý cho việc tiêm chủng bắt buộc, nhưng để áp dụng trên thực tế, bệnh đó phải nằm trong danh mục do Bộ Y tế ban hành. Tại thời điểm tháng 08/2021, danh mục các bệnh truyền nhiễm phải sử dụng vắc xin bắt buộc được quy định tại Thông tư 38/2017/TT-BYT.
Đáng chú ý, trong danh mục này vào năm 2021 chưa bổ sung vắc xin Covid-19. Do đó, các cơ quan chức năng tại thời điểm này chủ yếu thực hiện chính sách khuyến khích và vận động người dân đi tiêm chủng dựa trên tinh thần tự nguyện và trách nhiệm với cộng đồng, thay vì áp dụng biện pháp cưỡng chế trên diện rộng.
Mức xử phạt đối với hành vi từ chối tiêm chủng khi có yêu cầu
Dù chưa nằm trong danh mục tiêm chủng mở rộng bắt buộc hàng năm, nhưng trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền ra quyết định yêu cầu bắt buộc tiêm chủng đối với cá nhân tại vùng dịch mà cá nhân đó từ chối hoặc trốn tránh, pháp luật vẫn có chế tài xử lý.
Căn cứ khoản 2 Điều 9 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, hành vi vi phạm quy định về sử dụng vắc xin sẽ bị xử phạt như sau:
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không sử dụng hoặc cản trở việc sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế đối với các bệnh có vắc xin, sinh phẩm y tế phòng bệnh trong trường hợp có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch hoặc đến vùng có dịch theo yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Mức phạt này nhằm răn đe các trường hợp cố tình không chấp hành các biện pháp phòng chống dịch khẩn cấp, gây nguy hiểm cho cộng đồng trong giai đoạn cao điểm của dịch bệnh.
Đối tượng được ưu tiên tiêm miễn phí vắc xin Covid-19
Để đảm bảo công bằng và hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực vắc xin còn hạn chế, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 21/NQ-CP năm 2021 quy định về các nhóm đối tượng ưu tiên tiêm miễn phí, bao gồm:
- Lực lượng tuyến đầu: Nhân viên y tế, người tham gia phòng chống dịch (Ban chỉ đạo, tổ Covid cộng đồng, tình nguyện viên...), quân đội, công an.
- Nhân viên ngoại giao: Cán bộ được cử đi nước ngoài, cán bộ làm công tác xuất nhập cảnh.
- Người cung cấp dịch vụ thiết yếu: Hàng không, vận tải, du lịch, điện, nước...
- Giáo viên và cán bộ giáo dục: Người làm việc tại các cơ sở đào tạo thường xuyên tiếp xúc đông người.
- Nhóm nguy cơ cao: Người mắc bệnh mạn tính, người trên 65 tuổi.
- Người dân vùng dịch: Những người đang sinh sống tại các khu vực có ổ dịch bùng phát.
- Đối tượng chính sách: Người nghèo, các đối tượng bảo trợ xã hội.
Việc tiêm chủng không chỉ là quyền lợi để bảo vệ bản thân mà còn là trách nhiệm công dân trong việc chung tay đẩy lùi đại dịch. Người dân nên chủ động theo dõi thông báo từ chính quyền địa phương để thực hiện tiêm chủng đúng lịch và đầy đủ.