Việc bảo tồn và phát huy ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số không chỉ là nhiệm vụ văn hóa mà còn là yêu cầu cấp thiết trong công tác cán bộ tại các vùng miền núi. Mới đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 09/2023/TT-BGDĐT, quy định chi tiết về việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và cấp chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số. Những quy định này mở ra cơ hội chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và nâng cao năng lực cho cán bộ công tác tại địa phương.
Đối tượng nào được tham gia đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc?
Theo quy định tại Thông tư 09/2023/TT-BGDĐT, đối tượng tuyển sinh được chia thành hai nhóm chính tương ứng với mục tiêu đào tạo khác nhau:
1. Đào tạo giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số
Đây là nhóm đối tượng nòng cốt nhằm xây dựng đội ngũ giảng dạy chuyên nghiệp. Điều kiện bao gồm:
- Công dân Việt Nam đã tốt nghiệp cao đẳng sư phạm trở lên, hoặc tốt nghiệp đại học/cao đẳng khối ngành khác nhưng có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm.
- Phải có khả năng nói được tiếng dân tộc thiểu số của chương trình đào tạo đó.
- Ưu tiên: Người dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp đại học/cao đẳng sư phạm và đang thường trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
2. Bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ
Nhóm này tập trung vào việc hỗ trợ giao tiếp và thực thi công vụ, bao gồm:
- Công dân Việt Nam là người dân tộc thiểu số.
- Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công an, quân đội đang công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Hình thức tổ chức và quy trình đánh giá kết quả
Pháp luật quy định linh hoạt về hình thức học tập để phù hợp với đặc thù công tác của từng đối tượng. Cụ thể:
- Đào tạo giáo viên: Bắt buộc tổ chức theo hình thức đào tạo tập trung để đảm bảo chất lượng chuyên môn sâu.
- Bồi dưỡng cán bộ: Có thể lựa chọn hình thức tập trung, bán tập trung hoặc học từ xa, tạo điều kiện tối đa cho người vừa làm vừa học.
Về kiểm tra và đánh giá, các cơ sở đào tạo sẽ thực hiện đánh giá thường xuyên và định kỳ. Mỗi cụm bài học (từ 30 - 45 tiết) sẽ có ít nhất một bài kiểm tra để theo sát tiến độ của học viên.
Học viên thi cuối khóa đạt từ 5,0 điểm trở lên (thang điểm 10) thì được đánh giá hoàn thành chương trình và đủ điều kiện cấp chứng chỉ.
Cách xếp loại chứng chỉ tiếng dân tộc
Kết quả học tập ghi trên chứng chỉ sẽ dựa vào điểm trung bình chung toàn khóa, cụ thể như sau:
- Loại Giỏi: Điểm trung bình từ 8,0 đến 10 điểm.
- Loại Khá: Điểm trung bình từ 6,5 đến dưới 8,0 điểm.
- Loại Trung bình: Điểm trung bình từ 5,0 đến dưới 6,5 điểm.
Trường hợp học viên có điểm thi cuối khóa dưới 5,0 sẽ được bảo lưu các điểm thành phần và được phép thi lại duy nhất 01 lần.
Việc triển khai Thông tư 09/2023/TT-BGDĐT không chỉ giúp chuẩn hóa văn bằng mà còn là cầu nối quan trọng để cán bộ gần dân hơn, hiểu dân hơn, từ đó thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội tại vùng sâu, vùng xa.