Việc mở rộng mạng lưới hoạt động thông qua các phòng giao dịch là chiến lược quan trọng của các ngân hàng thương mại nhằm tiếp cận khách hàng và gia tăng thị phần. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng có thể tự do mở thêm điểm giao dịch theo ý muốn. Pháp luật hiện hành đã đặt ra những giới hạn cụ thể về số lượng cũng như các điều kiện tài chính, quản trị nghiêm ngặt nhằm bảo đảm an toàn hệ thống.
Hoạt động giao dịch tại một ngân hàng thương mại hiện đại (ảnh minh họa)
Giới hạn số lượng phòng giao dịch: Không phải cứ muốn là mở
Theo quy định mới nhất tại Thông tư 61/2025/TT-NHNN (có hiệu lực từ ngày 15/02/2026), số lượng phòng giao dịch mà một ngân hàng thương mại được phép thành lập phụ thuộc chặt chẽ vào số lượng chi nhánh hiện có và khu vực địa lý cụ thể.
Cụ thể, tại các khu vực nội thành của thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, số lượng phòng giao dịch không được lớn hơn 02 lần số lượng chi nhánh hiện có tại mỗi khu vực này và đặc biệt là không được quá 20 phòng giao dịch. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác, con số này nới lỏng hơn một chút nhưng cũng không được vượt quá 03 lần số lượng chi nhánh hiện có tại địa bàn đó.
"Số lượng phòng giao dịch của ngân hàng thương mại không lớn hơn 02 lần số lượng chi nhánh hiện có của ngân hàng thương mại tại mỗi khu vực này và không quá 20 phòng giao dịch." (Trích Điều 12 Thông tư 61/2025/TT-NHNN)
Công thức "vàng" xác định quy mô mạng lưới theo vốn điều lệ
Bên cạnh giới hạn về số lượng theo địa bàn, tổng số chi nhánh và phòng giao dịch của một ngân hàng còn phải đảm bảo tương ứng với năng lực tài chính, cụ thể là giá trị thực của vốn điều lệ. Điều 7 Thông tư 61/2025/TT-NHNN đưa ra công thức tính toán ràng buộc giữa quy mô mạng lưới và vốn tự có:
300 tỷ đồng × N1 + 100 tỷ đồng × M1 + 50 tỷ đồng × N2 + 20 tỷ đồng × M2 < C
Trong đó:
- C: Giá trị thực của vốn điều lệ của ngân hàng thương mại.
- N1: Số lượng chi nhánh đã thành lập và đang đề nghị thành lập tại khu vực nội thành Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
- N2: Số lượng chi nhánh đã thành lập và đang đề nghị thành lập tại các khu vực khác (ngoại thành, tỉnh lẻ).
- M1: Số lượng phòng giao dịch đã thành lập và đang đề nghị thành lập tại khu vực nội thành Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
- M2: Số lượng phòng giao dịch đã thành lập và đang đề nghị thành lập tại các khu vực khác.
Điều này nhằm đảm bảo rằng ngân hàng không mở rộng quá nhanh so với khả năng quản trị rủi ro và nguồn vốn của mình, tránh tình trạng "vung tay quá trán" dẫn đến mất an toàn hệ thống.
Nhân viên ngân hàng tư vấn dịch vụ cho khách hàng tại quầy giao dịch (ảnh minh họa)
Điều kiện khắt khe để được chấp thuận thành lập phòng giao dịch
Để được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận mở thêm phòng giao dịch, ngân hàng thương mại phải vượt qua các bài kiểm tra về sức khỏe tài chính theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2024. Các tiêu chí bắt buộc bao gồm:
- Kết quả kinh doanh: Phải có lãi trong năm liền trước năm đề nghị thành lập (đối với ngân hàng hoạt động trên 12 tháng) hoặc có lãi đến tháng liền kề trước thời điểm đề nghị (đối với ngân hàng hoạt động dưới 12 tháng).
- An toàn hoạt động: Tuân thủ nghiêm các hạn chế để bảo đảm an toàn quy định tại Điều 138 và Điều 142 của Luật này.
- Tỷ lệ nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu phải dưới 3% tại thời điểm đề nghị hoặc theo quy định cụ thể của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ.
- Quản trị và kiểm soát: Bộ máy điều hành đầy đủ, không bị khuyết các chức danh chủ chốt như Tổng Giám đốc, có hệ thống kiểm soát nội bộ và bộ phận kiểm toán nội bộ vững mạnh hoạt động hiệu quả.
Đặc biệt, đối với các phòng giao dịch dự kiến thành lập tại khu vực đô thị (không phải vùng nông thôn), ngân hàng thương mại còn phải đạt xếp hạng tốt theo kết quả xếp hạng gần nhất của Ngân hàng Nhà nước.
Như vậy, việc thành lập phòng giao dịch không chỉ đơn thuần là bài toán kinh doanh nhằm gia tăng doanh số mà còn là sự khẳng định về uy tín, năng lực tài chính và khả năng quản trị rủi ro của ngân hàng trước các cơ quan quản lý và công chúng.