Tin tức Hệ thống pháp luật Việt Nam

Chính thức cấm thuốc lá điện tử từ 2025: Người vi phạm đối mặt mức phạt nào?

11/12/2024
Từ năm 2025, thuốc lá điện tử chính thức bị cấm tại Việt Nam theo Nghị quyết của Quốc hội. Người sử dụng, buôn bán hoặc tàng trữ loại hàng cấm này sẽ bị xử lý ra sao? Cùng tìm hiểu chi tiết mức phạt hành chính và trách nhiệm hình sự mới nhất.

Tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng khi chính thức thông qua Nghị quyết 173/2024/QH15. Theo đó, kể từ năm 2025, Việt Nam sẽ chính thức cấm hoàn toàn việc sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử cũng như thuốc lá nung nóng.

Thuốc lá điện tử chính thức trở thành hàng cấm tại Việt Nam từ năm 2025 (ảnh minh họa)

Bước ngoặt pháp lý: Thuốc lá điện tử chính thức là hàng cấm

Việc đưa thuốc lá điện tử vào danh mục hàng cấm đồng nghĩa với việc mọi hành vi liên quan đến mặt hàng này sẽ bị xử lý nghiêm khắc tương tự như các loại chất cấm khác. Tùy vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người hút thuốc lá điện tử bị xử phạt thế nào?

Nhiều người dân thắc mắc liệu việc chỉ hút (sử dụng) thuốc lá điện tử có bị đi tù hay không? Theo quy định hiện hành, Bộ luật Hình sự 2015 chưa có tội danh riêng biệt cho hành vi đơn thuần là sử dụng chất cấm. Tuy nhiên, về mặt hành chính, người sử dụng thuốc lá điện tử có thể bị xử lý theo khung phạt dành cho hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc chất cấm tương đương.

Cụ thể, dẫn chiếu theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Như vậy, khi thuốc lá điện tử chính thức bị cấm, người sử dụng có thể đối mặt với mức phạt tiền lên đến 2.000.000 đồng.

Lực lượng chức năng sẽ tăng cường kiểm tra và xử lý các hành vi sử dụng thuốc lá điện tử nơi công cộng (ảnh minh họa)

Buôn bán, tàng trữ thuốc lá điện tử: Phạt tiền đến 100 triệu đồng

Đối với các hành vi kinh doanh, vận chuyển hoặc tàng trữ thuốc lá điện tử, mức xử phạt sẽ nặng hơn rất nhiều. Theo Điều 8 Nghị định 98/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP), mức phạt tiền đối với hành vi buôn bán hàng cấm được quy định dựa trên giá trị hàng hóa:

  • Trị giá dưới 3 triệu đồng: Phạt từ 1 - 3 triệu đồng.
  • Trị giá từ 30 đến dưới 50 triệu đồng: Phạt từ 30 - 50 triệu đồng.
  • Trị giá từ 100 triệu đồng trở lên: Phạt từ 90 - 100 triệu đồng (nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự).

Lưu ý: Đối với tổ chức vi phạm, mức phạt tiền sẽ gấp 02 lần so với cá nhân. Ngoài ra, người vi phạm còn bị tịch thu tang vật và buộc tiêu hủy toàn bộ số thuốc lá điện tử vi phạm.

Khi nào hành vi buôn bán thuốc lá điện tử bị xử lý hình sự?

Đây là mức độ xử lý nghiêm trọng nhất dành cho những đối tượng buôn lậu hoặc kinh doanh thuốc lá điện tử với số lượng lớn. Căn cứ vào Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 về Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm:

Người nào thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Trong trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc giá trị hàng hóa lớn hơn, mức hình phạt cao nhất có thể lên đến 15 năm tù giam. Đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, người vi phạm cũng có thể bị xử lý theo Điều 191 Bộ luật Hình sự 2015 với mức án tù từ 06 tháng đến 10 năm.

Việc Quốc hội chính thức cấm thuốc lá điện tử từ năm 2025 là một thông điệp mạnh mẽ nhằm bảo vệ thế hệ trẻ trước những tác hại khôn lường của các loại thuốc lá thế hệ mới. Người dân cần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật để tránh những rủi ro pháp lý đáng tiếc.