Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn là một trong những chỉ số an toàn thanh khoản then chốt của hệ thống ngân hàng. Kể từ ngày 01/7/2026, quy định này đã được điều chỉnh ra sao và cách thức tính toán cụ thể như thế nào để vừa kiểm soát rủi ro kỳ hạn vừa đảm bảo thanh khoản?
Trong hoạt động ngân hàng thương mại, vấn đề chênh lệch kỳ hạn giữa huy động vốn và cấp tín dụng (kỳ hạn huy động chủ yếu ngắn hạn trong khi nhu cầu vay vốn của nền kinh tế cho các dự án đầu tư lại mang tính chất trung và dài hạn) luôn tiềm ẩn rủi ro thanh khoản lớn. Nhằm kiểm soát chặt chẽ rủi ro này và bảo đảm an toàn hệ thống, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành các giới hạn, tỷ lệ an toàn nghiêm ngặt điều chỉnh trực tiếp hoạt động của các tổ chức tín dụng.
1. Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 01/7/2026
Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN (được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Thông tư 25/2026/TT-NHNN), tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn được áp dụng thống nhất:
Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn là 40%.
Quy định này buộc các tổ chức tín dụng phải cơ cấu lại nguồn vốn huy động theo hướng bền vững hơn, tăng tỷ trọng huy động tiền gửi và phát hành các giấy tờ có giá kỳ hạn dài để tài trợ cho các danh mục cho vay dài hạn, tránh tình trạng lấy vốn ngắn hạn tài trợ quá mức cho dự án trung và dài hạn.
2. Công thức và cách xác định tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn
Theo khoản 1 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN, ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài xác định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn theo đồng Việt Nam (bao gồm đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ quy đổi sang đồng Việt Nam theo tỷ giá quy định).
Tỷ lệ này được tính toán dựa trên công thức chuẩn xác sau:
A (%) = (B / C) x 100%
Trong đó:
A: Tỷ lệ của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn (không được vượt quá 40%);
B: Phần chênh lệch giữa tổng dư nợ cho vay trung hạn, dài hạn và tổng nguồn vốn trung hạn, dài hạn (B = Tổng dư nợ trung dài hạn - Tổng nguồn vốn trung dài hạn);
C: Tổng nguồn vốn ngắn hạn theo quy định.
3. Nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng bao gồm những cấu phần nào?
Căn cứ khoản 4 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN, nguồn vốn ngắn hạn được xác định là số dư có thời hạn còn lại đến 01 năm (bao gồm cả tiền gửi không kỳ hạn) của các khoản sau:
Tiền gửi của cá nhân: Toàn bộ số dư tiền gửi có kỳ hạn đến 1 năm và không kỳ hạn của khách hàng cá nhân (ngoại trừ tiền ký quỹ và tiền gửi vốn chuyên dùng);
Tiền gửi của tổ chức: Tiền gửi của tổ chức kinh tế, xã hội trong nước và nước ngoài có thời hạn còn lại đến 1 năm, loại trừ: tiền gửi các loại của Kho bạc Nhà nước; tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng và tiền gửi của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam;
Tiền vay tổ chức tài chính: Các khoản vay từ tổ chức tài chính trong và ngoài nước (không bao gồm tiền vay từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam);
Vốn ủy thác đầu tư: Vốn tài trợ ủy thác đầu tư nhận của Chính phủ mà ngân hàng tự chịu rủi ro;
Tiền vay đầu mối: Tiền vay của tổ chức tín dụng đầu mối đối với các dự án hợp vốn, tài trợ ủy thác mà rủi ro do chính ngân hàng gánh chịu;
Giấy tờ có giá ngắn hạn: Nguồn vốn huy động thông qua việc phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu có thời hạn còn lại đến 01 năm;
Tiền gửi Quỹ tín dụng nhân dân: Áp dụng riêng đối với Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam.
4. Các khoản dư nợ nào được tính vào dư nợ cho vay trung và dài hạn?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN, tổng dư nợ cho vay trung hạn, dài hạn (tử số B trong công thức) bao gồm:
Dư nợ có thời hạn còn lại trên 01 năm: Bao gồm các khoản cho vay thông thường (trừ một số khoản vay bằng nguồn ủy thác đặc thù hoặc chương trình được tái cấp vốn theo quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ); các khoản ủy thác cho tổ chức tín dụng khác cho vay mà ngân hàng ủy thác chịu rủi ro; các khoản mua, đầu tư vào giấy tờ có giá có thời hạn còn lại trên 1 năm mà ngân hàng chịu rủi ro;
Dư nợ gốc bị quá hạn: Toàn bộ dư nợ gốc bị quá hạn của các khoản cho vay, ủy thác cho vay, cũng như số dư mua, đầu tư giấy tờ có giá bị quá hạn theo quy định của pháp luật.
5. Nguồn vốn trung hạn và dài hạn được xác định ra sao?
Theo khoản 3 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN, nguồn vốn trung hạn và dài hạn được sử dụng để bù đắp cho dư nợ cho vay trung, dài hạn là các khoản có thời hạn còn lại trên 01 năm, bao gồm:
Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân có thời hạn còn lại trên 01 năm;
Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức trong và ngoài nước (trừ tiền gửi Kho bạc Nhà nước);
Tiền vay từ các định chế, tổ chức tài chính trong và ngoài nước có kỳ hạn còn lại trên 1 năm;
Vốn tài trợ, ủy thác đầu tư nhận của Chính phủ mà ngân hàng chịu rủi ro;
Tiền huy động qua phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu dài hạn (trên 1 năm);
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng (bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, lợi nhuận giữ lại) sau khi đã trừ đi các khoản đầu tư góp vốn, mua sắm tài sản cố định theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2024.
Việc kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn là giải pháp quan trọng giúp các ngân hàng thương mại nâng cao năng lực quản trị rủi ro thanh khoản, bảo đảm tính an toàn, bền vững của toàn hệ thống tài chính tín dụng quốc gia.