Tin tức Hệ thống pháp luật Việt Nam

Ai phải nộp án phí dân sự sơ thẩm? Những trường hợp được miễn giảm bạn cần biết

30/04/2025
Bài viết cung cấp thông tin chi tiết về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định mới nhất. Tìm hiểu ngay ai là người phải nộp tiền, các trường hợp được miễn, giảm án phí và những lưu ý quan trọng khi giải quyết vụ án tại Tòa án.

Khi tham gia vào một vụ án dân sự, bên cạnh việc quan tâm đến kết quả thắng thua, các đương sự thường lo lắng về vấn đề chi phí, đặc biệt là án phí. Vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, ai phải chịu án phí dân sự sơ thẩm? Những trường hợp nào được ưu tiên miễn, giảm? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp chi tiết dựa trên các căn cứ pháp lý mới nhất.

Không gian phiên tòa xét xử dân sự tại Việt Nam (ảnh minh họa)

Phân loại các loại án phí trong vụ án dân sự hiện nay

Theo quy định tại Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, án phí dân sự được chia thành các loại cơ bản sau:

  • Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án không có giá ngạch: Là những vụ án mà yêu cầu của đương sự không phải là một số tiền hoặc không thể xác định được giá trị bằng tiền cụ thể (ví dụ: tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn).
  • Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án có giá ngạch: Là vụ án mà yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc tài sản có thể định giá được bằng tiền cụ thể.
  • Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng khi có kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm.

Ai là người có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm?

Nghĩa vụ chịu án phí được quy định rất rõ ràng nhằm đảm bảo tính công bằng và trách nhiệm của các bên khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nguyên tắc xác định người chịu án phí như sau:

"1. Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm. 2. Trường hợp các đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung và có yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung đó thì mỗi đương sự phải chịu án phí sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng. 3. Trước khi mở phiên tòa, Tòa án tiến hành hòa giải; nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm... 4. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm."
Luật sư tư vấn về nghĩa vụ tài chính và án phí cho khách hàng (ảnh minh họa)

Những trường hợp đặc biệt được miễn hoặc không phải chịu án phí

Pháp luật Việt Nam luôn dành sự quan tâm đến các đối tượng yếu thế hoặc các tranh chấp mang tính chất an sinh xã hội. Theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, các trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:

  • Người lao động khởi kiện đòi lương, trợ cấp mất việc, bảo hiểm xã hội hoặc bồi thường tai nạn lao động.
  • Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.
  • Trẻ em (người dưới 16 tuổi), cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người cao tuổi (từ đủ 60 tuổi trở lên), người khuyết tật.
  • Người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Lưu ý quan trọng về nghĩa vụ chịu án phí trong các tình huống cụ thể

Có một số tình huống "ngoại lệ" mà đương sự cần nắm vững để bảo vệ quyền lợi tài chính của mình:

  • Thỏa thuận bồi thường: Nếu trước khi mở phiên tòa, các bên tự thỏa thuận được việc bồi thường và đề nghị Tòa án ghi nhận thì không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  • Chia tài sản chung vợ chồng: Nếu tự thỏa thuận phân chia và yêu cầu Tòa án ghi nhận trước khi hòa giải, đương sự không phải chịu án phí đối với phần tài sản đó.
  • Án phí cấp dưỡng: Trường hợp thỏa thuận được mức cấp dưỡng trước khi mở phiên tòa, người có nghĩa vụ chỉ phải chịu 50% mức án phí như đối với vụ án không có giá ngạch.

Việc hiểu rõ quy định về án phí dân sự sơ thẩm không chỉ giúp bạn chủ động về tài chính mà còn là cơ sở để thực hiện các quyền miễn, giảm theo đúng quy định của pháp luật.