Chính sách giảm nghèo bền vững luôn là một trong những trụ cột an sinh xã hội quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Bước sang năm 2026, công tác rà soát, xác định hộ nghèo và thực hiện các chính sách hỗ trợ có những bước chuyển giao pháp lý quan trọng. Việc nắm rõ các tiêu chí xác định hộ nghèo cũng như các quyền lợi, chính sách hỗ trợ đi kèm là vô cùng thiết thực để đảm bảo không một người dân nào bị bỏ lại phía sau.
1. Tiêu chí xác định hộ nghèo năm 2026 theo quy định mới nhất
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 351/2025/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Đây là văn bản pháp lý nền tảng, định hình lại toàn bộ hệ thống đo lường nghèo đói tại Việt Nam trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên, về mặt lộ trình thực hiện, pháp luật có sự phân tách rõ ràng giữa năm chuyển giao 2026 và giai đoạn ổn định 2027 - 2030. Cụ thể, tại Điều 2 Nghị định 351/2025/NĐ-CP quy định rõ:
"1. Tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2026."
Như vậy, trong suốt năm 2026, các cơ quan chức năng vẫn áp dụng các tiêu chí đo lường thu nhập và mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản theo quy định cũ tại Nghị định 07/2021/NĐ-CP để xác định hộ nghèo. Cụ thể như sau:
1.1. Tiêu chuẩn thu nhập và mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 07/2021/NĐ-CP, hộ nghèo năm 2026 được xác định dựa trên hai yếu tố song song: mức thu nhập bình quân đầu người và số lượng chỉ số dịch vụ xã hội bị thiếu hụt:
- Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng trở xuống VÀ thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2,0 triệu đồng trở xuống VÀ thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
1.2. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản
Nghèo đa chiều không chỉ nhìn vào túi tiền, mà còn đánh giá toàn diện khả năng tiếp cận các nhu cầu sống tối thiểu của con người. Hệ thống đo lường bao gồm 6 dịch vụ xã hội cơ bản với 12 chỉ số cụ thể:
| Dịch vụ xã hội cơ bản | Chỉ số đo lường thiếu hụt | Ngưỡng thiếu hụt cụ thể |
|---|---|---|
| 1. Việc làm | Việc làm | Có ít nhất 01 thành viên trong độ tuổi lao động (từ đủ 15 tuổi đến tuổi nghỉ hưu) không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không có hợp đồng lao động. |
| Người phụ thuộc | Tỷ lệ người phụ thuộc trong hộ gia đình lớn hơn 50% tổng số thành viên. Người phụ thuộc bao gồm trẻ em dưới 16 tuổi, người cao tuổi hoặc người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. | |
| 2. Y tế | Dinh dưỡng | Có ít nhất 01 trẻ em dưới 16 tuổi bị suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi hoặc suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi. |
| Bảo hiểm y tế | Có ít nhất 01 thành viên từ đủ 6 tuổi trở lên hiện không tham gia bảo hiểm y tế. | |
| 3. Giáo dục | Trình độ giáo dục của người lớn | Có ít nhất 01 thành viên từ 16 đến 30 tuổi không tham gia các khóa đào tạo nghề nghiệp hoặc không có bằng cấp, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. |
| Tình trạng đi học của trẻ em | Có ít nhất 01 trẻ em từ 3 tuổi đến dưới 16 tuổi không được đi học hoặc học không đúng bậc, cấp học phù hợp với độ tuổi. | |
| 4. Nhà ở | Chất lượng nhà ở | Hộ gia đình đang sống trong ngôi nhà hoặc căn hộ thuộc loại không bền chắc (kết cấu chính gồm tường, cột, mái có ít nhất 2 kết cấu làm bằng vật liệu tạm bợ, dễ cháy, không bền). |
| Diện tích nhà ở | Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8m². | |
| 5. Nước sinh hoạt và vệ sinh | Nguồn nước sinh hoạt | Hộ gia đình không tiếp cận được nguồn nước hợp vệ sinh hoặc nước sạch theo quy chuẩn. |
| Nhà tiêu hợp vệ sinh | Hộ gia đình không sử dụng nhà tiêu hoặc sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. | |
| 6. Thông tin | Sử dụng dịch vụ viễn thông | Không có thành viên nào trong hộ gia đình sử dụng internet hoặc các dịch vụ số cơ bản. |
| Phương tiện tiếp cận thông tin | Hộ gia đình không có bất kỳ phương tiện nào để tiếp cận thông tin cơ bản như tivi, radio, máy tính hoặc điện thoại thông minh. |
Ví dụ thực tế: Gia đình ông Nguyễn Văn A ở khu vực nông thôn có thu nhập bình quân đầu người là 1,2 triệu đồng/tháng (dưới ngưỡng 1,5 triệu đồng). Tuy nhiên, để bị xếp vào diện "hộ nghèo", gia đình ông phải thiếu hụt ít nhất 3 chỉ số trên. Nếu nhà ông A có diện tích bình quân chỉ 6m²/người (thiếu hụt diện tích nhà ở), con trai ông 14 tuổi đã bỏ học đi làm (thiếu hụt tình trạng đi học) và cả nhà chưa ai mua bảo hiểm y tế (thiếu hụt bảo hiểm y tế), thì gia đình ông chính thức đủ điều kiện công nhận là hộ nghèo năm 2026.
2. Các chính sách hỗ trợ toàn diện dành cho hộ nghèo năm 2026
Khi đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận là hộ nghèo, hộ gia đình sẽ được thụ hưởng một hệ thống chính sách an sinh xã hội đa dạng, bao phủ hầu hết các khía cạnh thiết yếu của cuộc sống.
2.1. Chính sách hỗ trợ y tế và chăm sóc sức khỏe
Sức khỏe là tài sản lớn nhất, nhưng cũng là gánh nặng dễ khiến người nghèo lún sâu vào kiệt quệ tài chính. Nhằm bảo vệ người nghèo trước rủi ro bệnh tật, Nhà nước áp dụng hai chính sách ưu đãi đặc biệt:
(1) Cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí:
Theo quy định tại Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế 2008 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2024), người thuộc hộ gia đình nghèo thuộc nhóm đối tượng do ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế hoàn toàn. Người dân không phải bỏ ra bất kỳ chi phí nào để sở hữu tấm thẻ bảo hiểm y tế này.
(2) Hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh trái tuyến trong một số trường hợp:
Theo quy định tại Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế 2008 (được sửa đổi bởi Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2024), người thuộc hộ nghèo khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến (trái tuyến) tại các bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương vẫn được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí trong phạm vi quyền lợi được hưởng nếu họ đang sinh sống tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã đảo hoặc huyện đảo.
2.2. Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng
Chính sách trợ cấp xã hội đối với các thành viên thuộc hộ nghèo được thực hiện nghiêm túc theo quy định tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP. Đặc biệt, kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định 76/2024/NĐ-CP nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội từ 360.000 đồng/tháng lên 500.000 đồng/tháng. Sự điều chỉnh này giúp tăng đáng kể số tiền trợ cấp thực tế mà người nghèo nhận được hàng tháng.
Các đối tượng thuộc hộ nghèo được nhận trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:
- Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng hoặc bị nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.
- Người đơn thân nghèo đang nuôi con dưới 16 tuổi (hoặc con từ 16 đến 22 tuổi đang đi học văn hóa, học nghề).
- Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng.
- Người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng thuộc hộ nghèo.
2.3. Chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập
Để cái nghèo không cản bước con chữ, Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho học sinh, sinh viên nghèo. Kể từ ngày 03 tháng 09 năm 2025, Nghị định 238/2025/NĐ-CP chính thức có hiệu lực (thay thế Nghị định 81/2021/NĐ-CP), mang lại những điều chỉnh đồng bộ về chính sách học phí:
- Miễn 100% học phí: Áp dụng cho trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông, học viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo. Sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập thuộc hộ nghèo cũng được miễn toàn bộ học phí.
- Hỗ trợ chi phí học tập: Học sinh thuộc hộ nghèo được nhận khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp hàng tháng để mua sắm sách vở, đồ dùng học tập, giúp giảm bớt gánh nặng đầu năm học cho cha mẹ.
2.4. Chính sách hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở
An cư mới lạc nghiệp. Đối với những hộ nghèo đang phải sống trong những ngôi nhà dột nát, tạm bợ, Nhà nước triển khai các chương trình hỗ trợ nhà ở vô cùng thiết thực. Theo hướng dẫn tại Thông tư 01/2022/TT-BXD thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, các hộ nghèo tại các huyện nghèo được hỗ trợ kinh phí trực tiếp để xây mới hoặc sửa chữa nhà ở:
- Xây mới nhà ở: Được hỗ trợ định mức kinh phí từ ngân sách nhà nước (thường kết hợp giữa ngân sách trung ương, địa phương và các nguồn xã hội hóa).
- Sửa chữa nhà ở: Được hỗ trợ kinh phí để gia cố, nâng cấp các kết cấu chính của ngôi nhà đạt tiêu chuẩn an toàn, bền chắc.
Đặc biệt, phong trào thi đua "Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước" đang được triển khai mạnh mẽ trên khắp các địa phương, huy động nguồn lực khổng lồ từ cộng đồng doanh nghiệp và các nhà hảo tâm để giúp đỡ các hộ nghèo cải thiện điều kiện nhà ở.
2.5. Chính sách hỗ trợ tiền điện sinh hoạt hàng tháng
Dù là khoản hỗ trợ nhỏ nhưng việc hỗ trợ tiền điện sinh hoạt hàng tháng mang ý nghĩa thiết thực, giúp giảm bớt chi phí sinh hoạt thường nhật cho người nghèo. Theo quy định tại Thông tư 190/2014/TT-BTC và Quyết định 60/2014/QĐ-TTg:
- Mỗi hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện sinh hoạt hàng tháng tương đương với lượng điện tiêu thụ 30 kWh/tháng tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành.
- Phương thức chi trả thường được thực hiện trực tiếp bằng tiền mặt theo quý hoặc tích hợp vào tài khoản an sinh xã hội của chủ hộ, đảm bảo tính minh bạch và tiện lợi.
3. Lời khuyên pháp lý cho người dân
Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình, các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn cần chủ động phối hợp với chính quyền địa phương trong các đợt rà soát hộ nghèo định kỳ hàng năm (thường diễn ra vào cuối năm). Nếu nhận thấy gia đình mình đủ điều kiện nhưng chưa được đưa vào danh sách rà soát, chủ hộ có quyền làm đơn đề nghị rà soát bổ sung gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để được xem xét, giải quyết kịp thời theo đúng trình tự pháp luật.