Trong quan hệ lao động, việc một bên tự ý chấm dứt hợp đồng mà không tuân thủ các quy định về căn cứ hoặc thời hạn báo trước được coi là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Theo bối cảnh pháp lý tại thời điểm tháng 02/2019, các quy định của Bộ luật Lao động 2012 đang có hiệu lực thi hành, đặt ra những chế tài rất cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.
Thế nào là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật?
Căn cứ theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động 2012, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các Điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này.
"Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này."
Hiểu một cách đơn giản, nếu người lao động hoặc người sử dụng lao động không có lý do chính đáng (đối với hợp đồng xác định thời hạn) hoặc không tuân thủ thời gian báo trước theo luật định, hành vi đó sẽ bị coi là trái luật.
"Cái giá" người sử dụng lao động phải trả khi đuổi việc sai luật
Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, họ phải đối mặt với những nghĩa vụ bồi thường rất lớn theo Điều 42 Bộ luật Lao động 2012:
- Nghĩa vụ nhận lại làm việc: Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Trường hợp người lao động không muốn quay lại: Ngoài các khoản tiền lương và bảo hiểm nêu trên, người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định.
- Trường hợp không muốn nhận lại và người lao động đồng ý: Hai bên thỏa thuận khoản bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương để chấm dứt hợp đồng.
Ví dụ: Một doanh nghiệp sa thải nhân viên vì lý do cá nhân mà không có căn cứ kỷ luật đúng quy trình. Nếu ra tòa, doanh nghiệp có thể phải bồi thường hàng trăm triệu đồng bao gồm lương những ngày nghỉ việc và các khoản phạt vi phạm.
Người lao động "nhảy việc" trái luật: Không chỉ mất trợ cấp mà còn phải đền tiền
Nhiều người lao động lầm tưởng rằng mình có quyền nghỉ việc bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, theo Điều 43 Bộ luật Lao động 2012, nếu tự ý bỏ việc trái luật, người lao động sẽ phải chịu các hậu quả sau:
- Không được trợ cấp thôi việc: Đây là thiệt hại đầu tiên về quyền lợi tích lũy.
- Bồi thường cho người sử dụng lao động: Phải bồi thường nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Bồi thường do vi phạm thời hạn báo trước: Một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước.
- Hoàn trả chi phí đào tạo: Nếu người lao động được đào tạo từ kinh phí của người sử dụng lao động thì phải hoàn trả toàn bộ chi phí này.
Thực tế cho thấy, việc "nhảy việc" không bàn giao hoặc nghỉ ngang không báo trước 30-45 ngày (tùy loại hợp đồng) thường dẫn đến tranh chấp căng thẳng, ảnh hưởng đến uy tín nghề nghiệp của người lao động.
Tóm lại, dù là bên nào, việc nắm vững quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng là vô cùng cần thiết để tránh những rủi ro pháp lý và thiệt hại kinh tế không đáng có.