Bước vào năm học 2019 - 2020, vấn đề học phí luôn là mối quan tâm hàng đầu của hàng triệu sinh viên và phụ huynh trên cả nước. Theo lộ trình được quy định tại Nghị định 86/2015/NĐ-CP, mức trần học phí đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập sẽ có những điều chỉnh đáng chú ý, phân hóa rõ rệt dựa trên mức độ tự chủ tài chính của từng đơn vị.
Phân nhóm cơ sở đào tạo và mức trần học phí tương ứng
Căn cứ theo Điều 5 Nghị định 86/2015/NĐ-CP, Chính phủ quy định mức trần học phí đại học dựa trên hai nhóm đối tượng chính. Việc phân loại này nhằm khuyến khích các trường tiến tới tự chủ, đồng thời đảm bảo tính công bằng và khả năng tiếp cận giáo dục cho người học.
1. Nhóm các trường tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư
Đối với các trường đại học đã thực hiện tự chủ hoàn toàn (tự đảm bảo cả chi thường xuyên và chi đầu tư), mức trần học phí cho năm học 2019 - 2020 được giữ ổn định so với năm học trước đó. Đây là một nỗ lực nhằm bình ổn chi phí đào tạo tại các đơn vị đã có nền tảng tài chính vững vàng.
Cụ thể, mức học phí tối đa (mức trần) được quy định như sau:
- Khối ngành Khoa học xã hội, kinh tế, luật; nông, lâm, thủy sản: 1.850.000 đồng/tháng.
- Khối ngành Khoa học tự nhiên; kỹ thuật, công nghệ; thể dục thể thao, nghệ thuật; khách sạn, du lịch: 2.200.000 đồng/tháng.
- Khối ngành Y dược: 4.600.000 đồng/tháng.
Tính đến thời điểm năm 2019, danh sách các trường đại học tự chủ đã mở rộng lên con số 23 trường, bao gồm những cái tên tiêu biểu như Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Ngoại thương, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, và các thành viên của Đại học Quốc gia...
2. Nhóm các trường chưa tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư
Khác với nhóm tự chủ, các trường vẫn đang nhận ngân sách hỗ trợ từ Nhà nước sẽ có mức tăng học phí khá rõ rệt trong năm học 2019 - 2020. Theo tính toán, mức tăng này đạt khoảng 10,16% so với năm học 2018 - 2019.
Bảng so sánh mức trần học phí qua hai năm học:
| Khối ngành đào tạo | Năm học 2018 - 2019 (đồng/tháng) | Năm học 2019 - 2020 (đồng/tháng) |
|---|---|---|
| Khoa học xã hội, kinh tế, luật; nông, lâm, thủy sản | 810.000 | 890.000 |
| Khoa học tự nhiên; kỹ thuật, công nghệ; thể thao, nghệ thuật... | 960.000 | 1.060.000 |
| Y dược | 1.180.000 | 1.300.000 |
Thực tế áp dụng tại các trường đại học lớn
Mặc dù Chính phủ đưa ra mức trần, nhưng mức thu thực tế sẽ do Hội đồng trường hoặc Hiệu trưởng quyết định dựa trên điều kiện thực tế của từng trường, miễn là không vượt quá khung quy định.
Ví dụ, tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, mức học phí bình quân tối đa cho chương trình đại trà trình độ đại học chính quy sẽ tăng lên mức 17.500.000 đồng/sinh viên/năm. So với năm học trước, con số này tăng thêm 500.000 đồng, bám sát lộ trình tự chủ tài chính.
Tương tự, Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh cũng công bố mức thu học phí bình quân tối đa là 20.400.000 đồng/sinh viên/năm cho năm học 2019 - 2020, tăng 1.200.000 đồng so với năm học 2018 - 2019. Sự gia tăng này được giải thích là để bù đắp chi phí đào tạo đặc thù của ngành Y vốn rất tốn kém về trang thiết bị và thực hành.
Trích dẫn quy định pháp luật: Khoản 2 Điều 5 Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định: "Cơ sở giáo dục công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được tự xác định mức học phí theo lộ trình tính đủ chi phí đào tạo..."
Lời khuyên cho sinh viên và phụ huynh
Việc nắm rõ mức trần học phí giúp gia đình chủ động hơn trong kế hoạch tài chính dài hạn. Bên cạnh việc theo dõi thông báo từ nhà trường, sinh viên cũng nên tìm hiểu về các chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập được quy định song song trong Nghị định 86/2015/NĐ-CP để đảm bảo quyền lợi chính đáng của mình.
Ngoài ra, đối với các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, các chương trình tín dụng đào tạo từ Ngân hàng Chính sách xã hội cũng là một kênh hỗ trợ đắc lực để vượt qua rào cản về học phí trong năm học mới này.
Ban Biên tập Hệ thống Pháp luật