Tin tức Hệ thống pháp luật Việt Nam

Cách xác định diện tích đất ở, đất vườn, ao khi cấp Sổ đỏ: Những quy định 'vàng' người dân cần biết

18/06/2020
Xác định diện tích đất ở trong thửa đất có vườn, ao là vấn đề phức tạp khi làm Sổ đỏ. Bài viết hướng dẫn chi tiết cách tính diện tích đất ở theo Luật Đất đai 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP để đảm bảo quyền lợi tối đa cho người dân.

Việc xác định diện tích đất ở đối với thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở là một trong những nội dung quan trọng nhất khi thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ). Tùy vào thời điểm hình thành thửa đất và các loại giấy tờ pháp lý đi kèm, diện tích đất ở sẽ được công nhận khác nhau. Dưới đây là hướng dẫn chi tiết dựa trên quy định của Luật Đất đai 2013Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

1. 03 trường hợp bắt buộc phải xác định diện tích đất ở

Không phải mọi thửa đất đều áp dụng quy tắc phân định đất ở và đất vườn, ao. Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, việc xác định diện tích đất ở chỉ áp dụng đối với thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở (kể cả trong và ngoài khu dân cư) thuộc các trường hợp sau:

  • Thửa đất hiện trạng: Đang có cả nhà ở và vườn, ao gắn liền.
  • Thửa đất biến động: Trên các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 23 Điều 100 Luật Đất đai 2013 có thể hiện nhà ở và vườn, ao nhưng thực tế hiện nay đã chuyển toàn bộ sang làm nhà ở.
  • Căn cứ mục đích sử dụng: Giấy tờ về quyền sử dụng đất ghi nhận một hoặc nhiều mục đích, trong đó có mục đích làm nhà ở, đất ở hoặc thổ cư.
Thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở cần được xác định rõ diện tích đất ở khi cấp Sổ đỏ (ảnh minh họa)

2. Cách xác định diện tích đất ở khi có giấy tờ về quyền sử dụng đất

Việc xác định diện tích đất ở phụ thuộc rất lớn vào mốc thời gian hình thành thửa đất. Cụ thể:

2.1. Thửa đất hình thành trước ngày 18/12/1980

Đây là trường hợp được ưu tiên cao nhất về quyền lợi. Theo khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai 2013:

"Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó."

Lưu ý đặc biệt: Nếu giấy tờ chưa ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận (không phải nộp tiền sử dụng đất) được xác định bằng 05 lần hạn mức giao đất ở do UBND cấp tỉnh quy định, nhưng không vượt quá diện tích thực tế của thửa đất.

2.2. Thửa đất hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004

Căn cứ khoản 3 Điều 103 Luật Đất đai 2013, cách tính như sau:

  • Nếu giấy tờ ghi rõ diện tích đất ở: Diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.
  • Nếu giấy tờ không ghi rõ diện tích đất ở: UBND cấp tỉnh sẽ căn cứ vào điều kiện, tập quán địa phương và số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình để quy định hạn mức công nhận đất ở.

Trong trường hợp này, nếu diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận thì diện tích đất ở bằng hạn mức. Nếu nhỏ hơn hạn mức thì công nhận toàn bộ diện tích thửa đất là đất ở.

3. Xác định diện tích đất ở khi không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

Đối với những hộ gia đình sử dụng đất lâu đời nhưng không có giấy tờ theo Điều 100, việc xác định diện tích đất ở được thực hiện theo khoản 5 Điều 103 Luật Đất đai 2013:

3.1. Đất sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993

Diện tích đất ở được xác định theo hạn mức công nhận đất ở do UBND cấp tỉnh quy định. Quy tắc áp dụng tương tự như trường hợp có giấy tờ nhưng không ghi rõ diện tích (so sánh diện tích thực tế với hạn mức địa phương).

3.2. Đất sử dụng ổn định từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004

Diện tích đất ở được xác định theo hạn mức giao đất ở mới cho mỗi hộ gia đình, cá nhân theo quy định của UBND cấp tỉnh tại thời điểm cấp Sổ đỏ.

4. Xử lý phần diện tích đất vườn, ao còn lại

Sau khi đã xác định được diện tích đất ở theo các quy tắc nêu trên, phần diện tích còn lại của thửa đất sẽ được xử lý như sau:

  • Được xác định theo mục đích hiện trạng đang sử dụng (thường là đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản...).
  • Nếu người dân có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng phần diện tích vườn, ao này sang đất ở thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính (nộp tiền sử dụng đất) theo quy định của pháp luật.

Việc nắm rõ các mốc thời gian 1980, 1993 và 2004 là chìa khóa để người dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, tránh việc bị áp mức thuế cao hoặc bị thu hẹp diện tích đất ở khi làm thủ tục pháp lý về đất đai.