Tin tức Hệ thống pháp luật Việt Nam

Lương hưu bao nhiêu thì được tính là người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh?

09/03/2024
Nhiều người thắc mắc liệu người có lương hưu có được đăng ký là người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh thuế TNCN hay không? Bài viết phân tích chi tiết điều kiện về mức thu nhập và quy định pháp luật mới nhất theo Thông tư 111/2013/TT-BTC.

Trong bối cảnh chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) ngày càng được quan tâm, việc xác định đối tượng người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh là vấn đề thiết thực đối với mỗi người nộp thuế. Một câu hỏi phổ biến thường gặp là: Người đang hưởng lương hưu có được tính là người phụ thuộc không? Câu trả lời không chỉ đơn thuần là 'có' hay 'không', mà phụ thuộc mật thiết vào mức thu nhập thực tế của họ.

Người có lương hưu vẫn có thể được tính là người phụ thuộc nếu đáp ứng đủ điều kiện (ảnh minh họa)

Người có lương hưu có được giảm trừ gia cảnh không?

Theo quy định tại Thông tư 111/2013/TT-BTC, người có lương hưu hoàn toàn có thể được đăng ký là người phụ thuộc của người nộp thuế, miễn là họ đáp ứng được các điều kiện khắt khe về mức thu nhập bình quân tháng.

Cụ thể, pháp luật phân loại dựa trên ngưỡng thu nhập 1 triệu đồng:

  • Trường hợp được giảm trừ: Nếu tổng tiền lương hưu cộng với các nguồn thu nhập khác (nếu có) mà bình quân tháng trong năm không vượt quá 1.000.000 đồng.
  • Trường hợp không được giảm trừ: Nếu tổng thu nhập bình quân tháng trong năm vượt quá 1.000.000 đồng, cá nhân đó sẽ không được tính là người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh.

Điều kiện chi tiết theo từng nhóm đối tượng

Căn cứ Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, các đối tượng như cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng đang hưởng lương hưu phải thỏa mãn các tiêu chí sau:

Việc tính toán mức thu nhập bình quân tháng là yếu tố then chốt trong quyết toán thuế (ảnh minh họa)

1. Đối với người ngoài độ tuổi lao động

Đây là nhóm phổ biến nhất đối với người hưởng lương hưu. Điều kiện duy nhất cần đáp ứng là không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn không vượt quá 1.000.000 đồng.

2. Đối với người trong độ tuổi lao động

Nếu người hưởng lương hưu vẫn đang trong độ tuổi lao động (ví dụ nghỉ hưu sớm do mất sức), họ phải đồng thời thỏa mãn hai điều kiện:

  • Bị khuyết tật, không có khả năng lao động.
  • Thu nhập bình quân tháng trong năm không vượt quá 1.000.000 đồng.

Trích dẫn nguyên văn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 9:

đ) Cá nhân được tính là người phụ thuộc theo hướng dẫn tại các tiết d.2, d.3, d.4, điểm d, khoản 1, Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau: đ.1) Đối với người trong độ tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: đ.1.1) Bị khuyết tật, không có khả năng lao động. đ.1.2) Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng. đ.2) Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.

Nguyên tắc tính giảm trừ gia cảnh cần lưu ý

Việc đăng ký người phụ thuộc không chỉ dừng lại ở việc đủ điều kiện thu nhập mà còn phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý thuế:

  • Mã số thuế: Người nộp thuế phải có mã số thuế cá nhân mới được đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc.
  • Tính duy nhất: Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Nếu nhiều người có chung đối tượng nuôi dưỡng thì phải tự thỏa thuận để đăng ký vào một người duy nhất.
  • Thời điểm tính: Việc giảm trừ được tính kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng nếu người nộp thuế thực hiện đăng ký đúng quy định.

Như vậy, nếu cha mẹ bạn có lương hưu dưới 1 triệu đồng/tháng và không có thu nhập nào khác, bạn hoàn toàn có thể tự tin đăng ký họ là người phụ thuộc để tối ưu hóa số thuế TNCN phải nộp. Ngược lại, nếu mức lương hưu cao hơn ngưỡng này, họ sẽ được coi là cá nhân có thu nhập độc lập và không thuộc diện được giảm trừ.