Những Trường Hợp Bị Từ Chối Tiếp Công Dân Từ 01/07/2026 Mọi Người Dân Cần Biết
Hoạt động tiếp công dân là cầu nối quan trọng giữa nhân dân với các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức chính trị - xã hội. Việc tiếp công dân nhằm lắng nghe, tiếp nhận những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo để kịp thời giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Tuy nhiên, để bảo đảm tính nghiêm minh, an toàn và hiệu quả tại nơi tiếp công dân, pháp luật đã quy định cụ thể những trường hợp bị từ chối tiếp công dân, đặc biệt là các căn cứ mới bổ sung áp dụng từ thời điểm ngày 01/07/2026 theo Nghị định 154/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân 2013.
1. Các trường hợp cán bộ được quyền từ chối tiếp công dân từ ngày 01/07/2026
Căn cứ theo quy định tại Điều 9 Luật Tiếp công dân 2013, cán bộ, công chức, viên chức làm nhiệm vụ tiếp công dân có quyền từ chối tiếp người đến trụ sở hoặc nơi tiếp công dân trong các trường hợp sau đây:
- Sử dụng chất kích thích hoặc bị bệnh tâm thần: Người trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích khác; người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi.
- Vi phạm quy định nội quy, có hành vi đe dọa, xúc phạm: Người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành vi vi phạm nội quy nơi tiếp công dân.
- Khiếu nại, tố cáo kéo dài đã giải quyết đúng pháp luật: Người khiếu nại, tố cáo về vụ việc đã được giải quyết đúng chính sách, pháp luật, đã được cơ quan có thẩm quyền rà soát, kiểm tra, trả lời bằng văn bản và giải thích hướng dẫn cụ thể nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài.
Bên cạnh các trường hợp truyền thống nêu trên, khoản 1 Điều 4 Nghị định 154/2026/NĐ-CP đã bổ sung một loạt các trường hợp mới mà người tiếp công dân được phép từ chối tiếp, bao gồm:
- Mang theo vũ khí, vật nguy hiểm: Người mang theo vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ hoặc chất nguy hiểm khác mà không chấp hành yêu cầu gửi tại nơi quy định hoặc giao nộp cho bộ phận bảo đảm an ninh.
- Không chấp hành kiểm tra an ninh: Người từ chối thực hiện quy trình kiểm tra an ninh bắt buộc tại nơi tiếp công dân.
- Tự ý ghi âm, ghi hình, phát trực tiếp (livestream): Người tự ý ghi âm, ghi hình, livestream khi chủ trì tiếp công dân đã yêu cầu không thực hiện để bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật đời tư, dữ liệu cá nhân, bảo vệ người tố cáo hoặc việc quay chụp làm mất an ninh, trật tự.
- Gây rối trật tự công cộng: Người có hành vi kích động, lôi kéo, gây rối trật tự tại nơi tiếp công dân.
- Mất năng lực hành vi dân sự không có đại diện: Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp đi cùng.
- Giấy tờ ủy quyền không hợp lệ: Người đại diện hoặc người được ủy quyền thực hiện khiếu nại, kiến nghị nhưng không xuất trình được tài liệu, giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp pháp.
- Nội dung không thuộc phạm vi tiếp công dân: Nội dung trình bày không thuộc phạm vi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định pháp luật.
- Vụ việc kiến nghị đã được trả lời và không có tình tiết mới: Người kiến nghị, phản ánh về vụ việc đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tiếp, hướng dẫn hoặc trả lời bằng văn bản theo đúng quy định và không bổ sung nội dung, tình tiết mới.
- Vụ việc đã có bản án của Tòa án có hiệu lực: Vụ việc đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và không thuộc trường hợp được xem xét lại. Điều này phải căn cứ vào văn bản trả lời chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Đang được cơ quan khác thụ lý giải quyết: Vụ việc đang được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác thụ lý và giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục luật định.

2. Trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong tiếp công dân
Theo quy định tại Điều 10 Nghị định 154/2026/NĐ-CP, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập mang trách nhiệm toàn diện trong việc tổ chức và trực tiếp thực hiện công tác tiếp công dân tại đơn vị mình:
Về công tác chỉ đạo, tổ chức:
- Ban hành đầy đủ nội quy, quy chế tiếp công dân phù hợp với đặc thù của đơn vị.
- Bố trí địa điểm tiếp công dân thuận lợi, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác tiếp dân.
- Phân công cán bộ, viên chức có năng lực, phẩm chất làm công tác tiếp công dân thường xuyên.
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị liên quan để tiếp nhận và xử lý các vụ việc đông người cùng khiếu nại, tố cáo về một nội dung.
- Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật tiếp công dân trong đơn vị; bảo đảm an ninh, an toàn tại khu vực tiếp công dân.
- Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất về kết quả công tác tiếp công dân với cơ quan quản lý cấp trên.
Về lịch tiếp công dân định kỳ và đột xuất:
- Người đứng đầu phải trực tiếp tiếp công dân ít nhất 01 ngày trong 01 tháng tại địa điểm tiếp công dân của đơn vị.
- Trực tiếp tiếp công dân đột xuất trong các vụ việc gay gắt, phức tạp, đông người hoặc các vụ việc nếu không xử lý kịp thời có thể gây hậu quả nghiêm trọng, hư hỏng tài sản nhà nước, xâm hại tính mạng, tài sản nhân dân.
- Khi tiếp công dân, người đứng đầu phải trả lời trực tiếp hoặc chỉ đạo viên chức xử lý, thông báo kết quả theo quy định tại Điều 28 Luật Tiếp công dân 2013.
3. Các nguyên tắc cốt lõi trong hoạt động tiếp công dân
Mọi hoạt động tiếp công dân của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc được quy định tại Điều 3 Luật Tiếp công dân 2013:
- Việc tiếp công dân phải được thực hiện công khai, dân chủ, kịp thời, với thủ tục đơn giản và thuận tiện nhất cho người dân.
- Bảo đảm bí mật thông tin và an toàn tuyệt đối cho người tố cáo theo đúng quy định của pháp luật.
- Bảo đảm tính khách quan, bình đẳng, không phân biệt đối xử trong suốt quá trình tiếp công dân và xử lý đơn thư.
- Tôn trọng, hỗ trợ và tạo điều kiện tối đa để công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh chính đáng.
Biến luật khô khan thành nội dung dễ hiểu, dễ áp dụng.
• Tóm tắt nhanh
• Phân tích chi tiết
• Ví dụ minh họa thực tế
Tổng hợp chi tiết các trường hợp bị từ chối tiếp công dân từ ngày 01/07/2026 theo Nghị định 154/2026/NĐ-CP và Luật Tiếp công dân 2013, cùng trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.