Luật sư tư vấn về đòi tiền sau khi không “chạy” được việc

Ngày gửi: 07/08/2015 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL41386

Câu hỏi:

Em có một vấn đề nhờ luật sư tư vấn giúp! Năm 2012, Qua thông tin một người bạn của anh em có giới thiệu với em một người làm trong tòa án có thể xin cho em vào Bệnh viện 115 TP HCM với số tiền 40 triệu đồng lúc đưa tiền có ông anh bạn em và vợ của cán bộ này ( nếu xin không được hoàn lại tiền, có giấy cam kết). Nhưng kết quả xin không được em có đòi tiền lại thì họ nói lúc đó họ đưa cho giám đốc bệnh viện 20 triệu, trường phòng TCLĐ 20 triệu,giờ. Khi nào có tiền họ trả lại, đã qua hơn 1,5 năm mà họ cứ hẹn nhưng không trả. Em xin hỏi giờ em phải làm sao để lấy lại được số tiền này và cách kiện họ ra sao? Vì gia đình em ở quê rất khó khăn phải mượn tiền để chạy việc cho em? Em xin cảm ơn!

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Với hành vi nhận 40  triệu đồng để có xin việc được cho bạn của người kia, và sau khi không xin được thì họ không hoàn trả lại bạn số tiền đó và đến nay đã hơn 1,5 năm họ vẫn không trả bạn thì có thể xác định là hành vi lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc chỉ là hành vi vi pháp luật dân sự (vi phạm hợp đồng dân sự).

Bởi lẽ, giữa bạn và người hứa xin việc có viết cam kết, do bạn không nói rõ nội dung cam kết trong giấy cam kết nên tôi có thể tư vấn cho bạn với hai trường hợp như sau:

– Trường hợp 1: Giấy cam kết đó với nội dung cam kết nhận tiền xin việc cho bạn:

Khi người này có hành vi nhận 40  triệu đồng trên cơ sở thỏa thuận bằng miệng (hình thức hợp đồng miệng) để giúp xin được việc cho bạn và đã nhận được khoản tiền nói trên, tuy nhiên sau khi không xin được việc thì có hành vi trốn tránh trách nhiệm, không hoàn trả lại bạn số tiền 40 triệu đó mà hành động đó nhằm chiếm đoạt 40 triệu đồng nói trên thì hành vi này có thể là hành vi lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), bởi lẽ khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định như sau:

“Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 024.6294.9155

– Trường hợp 2: giấy cam kết đó với nội dung là hợp đồng vay tiền (hợp đồng dân sự):

         Tại Điều 132 BLDS năm 2005 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối như sau:  “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.          
          Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”.           
         Theo như quy định của Bộ luật dân sự 2005 ở trên thì giao dịch dân sự của bạn đã thực hiện về việc giao nhận tiền là vô hiệu và trường hợp của bạn thuộc trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối. Người  kia đã dùng thủ đoạn xin việc để vay tiền của bạn – như vậy  bạn đã hiểu sai lệch về tính chất của đối tượng trong giao dịch dân sự ở trên.            
            Chính vì vậy, dù hành vi đó là hành vi vi phạm pháp luật hình sự hoặc hành vi vi phạm pháp luật dân sự thì bạn hoàn toàn có thể khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể là công an, để cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm rõ vụ việc nói trên.

Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì liên quan đến sự việc bạn có thể liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 024.6294.9155  để được giải đáp.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam