Dịch vụ doanh nghiệp online toàn quốc

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mới nhất năm 2020

Ngày gửi: 08/05/2020 lúc 11:31:12

Mã số câu hỏi: HTPL42000

Câu hỏi:

Chào luật sư! Luật sư cho em hỏi: Anh A từng bị phạt tù vì tội làm giả con dấu của cơ quan tổ chức ( làm bằng giả ) ạ. Lần này anh A bị bắt cũng vì làm giả con dấu vào ngày 15/7/2015. Khi bị bắt thì công an chỉ giữ được tang chứng trên người anh A là một cái bằng lái xe B2 giả thôi ạ. Nhưng trong quá trình điều tra thì anh A có khai là làm thêm một cái bằng Tốt nghiệp nữa. Ngày 6/1/2017 vừa rồi tòa có xử vụ án, nhưng anh A lại nói rằng không làm cái bằng tốt nghiệp kia. Vậy theo luật sư thì anh A nên làm gì để giảm nhẹ mức án nhất có thể ạ? Cảm ơn luật sư!

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội làm giả  con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức như sau:

1.Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào:

+ Quy định Bộ luật hình sự;

+ Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội;

+ Nhân thân người phạm tội;

+ Các tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Như vậy, trong trường hợp này, để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho A thì A phải đưa ra được các tình tiết giảm nhẹ theo Điều  46 Bộ luật hình sự 1999 và chứng minh theo hướng không có hoặc giảm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (nếu có).

Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bao gồm:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;  

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái  pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h)  Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc  công tác.

Các tình tiết khác do Tòa án xác định nhưng phải được ghi rõ trong bản án.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 bao gồm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d)  Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e)  Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

h) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất,  tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

i) Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

k) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

n) Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

o) Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

Các tình tiết được xác định là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng. 

Còn việc A nói làm bằng tốt nghiệp giả hay không thì ngoài lời khai của A còn phụ thuộc kết quả điều tra của cơ quan công an. Cho nên, nếu có thể A có thể chứng minh mình không làm bằng tốt nghiệp mà do điều tra không đúng hoặc ép cung thì trách nhiệm của A cũng được giảm  nhẹ.

3. Phân tích các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Trong quá trình định tội danh của người phạm tội, Tòa án bên cạnh việc căn cứ vào dấu hiệu cấu thành tội phạm căn cứ theo quy định của pháp luật thì Tòa án còn có sự cân nhắc khi căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi này. Theo đó các yếu tố về tình tiết giảm nhẹ hay tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng là yếu tố để Tòa án dựa vào để đưa ra bản án đối với người có hành vi pham tội. Trong đó đối với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết có sự ảnh hưởng nhất định về mức độ nguy hiểm của hành vi cho xã hội nên pháp luật hình sự quy định rất rõ về vấn đề này tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 theo đó các tình tiết được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự gồm có:

Thứ nhất, về hành vi phạm có yếu tố có tổ chức.

Việc thực hiện hành vi phạm tội có tổ chức là việc có sự hợp tác, phối hợp chặt chẽ của những người thực hiện hành vi phạm tội. Đây cũng là một hình thức biểu hiện của đồng phạm thực hiện tội phạm. Đối với hành vi vi phạm pháp luật có tổ chức được xác định là tình tiết tăng nặng bởi việc thực hiện hành vi phạm tội có nhiều người, là hình thức vi phạm có sự chuẩn bị và sự đồng thuận của nhiều người, tính chất nguy hiểm sẽ cao hơn. Theo đó, khi một tội phạm được thực hiện với hình thức đồng phạm thì sẽ có sự phân công, có sự sắp xếp chuẩn bị chi tiết. Mỗi một người đồng phạm sẽ dựa trên những kế hoạch được sắp xếp và chỉ đạo trước để đảm nhiệm trách nhiệm của mình trong quá trình thực hiện hành vi. Có những hành vi phạm tội có tổ chức thì người thực hiện hành vi phạm tội phân công cho nhau để thực hiện, có những hành vi phạm tội có tổ chức thì tất cả người phạm tội cùng thực hiện một hành vi, tất cả mọi người cùng tạo nên một sự phối hợp có kết cấu chặt chẽ để thực hiện tội phạm và che giấu hành vi của mình. Người vi phạm trong nhóm đồng phạm đó có thể là người thực hiện hành vi phạm tội, người có vai trò tổ chức hoặc có hành vi giúp sức để hành vi phạm tội được thực hiện thuận lợi hơn. Những người có hành vi phạm đã nhất trí được với nhau từ giai đoạn lên kế hoach đến khi thực hiện hành vi phạm tội về việc thực hiện được những mong muốn của họ. Dù biết đây là hành vi vi phạm pháp luật, gây nguy hiểm cho cá nhân, tổ chức, xã hội nhưng vẫn thực hiện đến cùng.

Thứ hai, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

Đối với tình tiết tăng nặng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp sẽ được xác định khi đáp ứng được những điều kiện theo quy định của pháp luật đó là: thực hiện hành vi phạm tội với cùng một tội phạm với lỗi cố ý từ 5 lần trở lên bao gồm cả những lần vi phạm đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự và những lần vi phạm nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người có hành vi thực hiện tội phạm mặc định việc thực hiện hành vi này là việc tạo thu nhập và là nghề nghiệp sinh sống chính của mình.

Ví dụ: Anh A thực hiện hành vi trộm cắp ti vi của hàng xóm. Nhưng trước đó, anh A đã thực hiện hành vi trộm cắp 5 lần trong đó có 4 lần bị truy cứu trách nhiệm hình sự và 1 lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Từ trước tới nay anh A không có nghề nghiệp ổn định và thường xuyên ăn cắp vặt để sinh sống, đến nay đã thực hiện nhiều lần phạm tội trộm cắp để trang trải cuộc sống. Như vậy đối với lần phạm tội này, anh A sẽ bị áp dụng tình tiết phạm tội tăng nặng đó là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

Thứ ba, thực hiện hành vi phạm tội với yếu tố lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội.

Với những người phạm tội thực hiện hành vi hành vi phạm tội có yếu lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam cũng là tình tiết mô tả dấu hiệu tội phạm và định tội danh. Tuy nhiên đối với một số tội phạm không được xác định là tình tiết định tội, mà cần xác định đây là tình tiết tăng nặng bởi vì có sự xuất hiện của những tình tiết này làm thay đổi mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cụ thể làm tăng thêm mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và không làm thay đổi tội danh. Đối với những người có chức vụ quyền hạn và lợi dụng quyền hạn này để thực hiện tội phạm thì bao giờ khả năng thực hiện cũng sẽ dễ dàng thực hiện và hậu quả để lại cũng sẽ nguy hiểm hơn.

Thứ ba, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ.

Trong các văn bản hướng dẫn Bộ luật hình sự Việt nam hiện hành chưa giải thích chi tiết về yếu tố côn đồ nhưng có thể hiểu hành vi có yếu tố côn đồ là hành vi của người thường xuyên không tuân thủ theo pháp luật, có thái độ coi thường những quy mà Nhà nước đề ra, ngoài ra người này còn có những hành vi sử dụng vũ lực và thường xuyên sử dụng vũ lực để quấy rối người khác, ức hiếp người khác, gây gổ hành hung gây thương tích cho người khác. Yếu tố này được xếp vào các tình tiết tăng nặng vì những hành vi và thái độ của những đối tượng này làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội một cách thường xuyên, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người khác. Tính chất côn đồ được thể hiện ở hành vi và lời nói mang tính chất hung hãn, nguy hiểm.

Thứ tư thực hiện hành vi phạm tội vì động cơ đê hèn.

Hiện tại theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam chưa có văn bản nào quy định giải thích về khái niệm động cơ đê hèn. Theo đó, ta có thê hiểu động cơ đe hèn là việc người thực hiện hành vi phạm tội với động cơ xuất phát từ sự ích kỷ của bản thân, những động cơ thấp hèn mặc cho hành vi này làm tổn hại đến danh sự, tư cách của chính mình. Những hành động này mang tính chất hèn nhát, bội bạc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của người khác.Ví dụ: anh A giết người yêu của mình đang có thai để trốn tránh trách nhiệm.

Trong thực tiễn xét xử những tội phạm có yếu tố có động cơ đê hèn thông thường người phạm tội và nạn nhân thường có mối quan hệ liên quan đến tình cảm hoặc công việc. Vì những sự ích kỷ của mình người phạm tội thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật với nạn nhân.

Thứ năm, Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

Đối với tình tiết cố tình thực hiện tội phạm đến cùng được hiểu là những trường hợp mà người phạm tội cố tình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đến khi đạt được mục đích. Thể hiện ý chí quyết tâm thực hiện được hành vi của mình với ý định phạm tội dù đã có những trở ngại nhất định hoặc sự ngăn cản, khuyên ngăn cả người khác nhưng họ vẫn ngoan cố thực hiện hành vi của mình đến cùng. Yếu tố này xác định người phạm tội có sự quyết tâm cao, dù biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng và nguy hiểm đến người khác và xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện đến cùng. Ví dụ: Trong lúc cãi nhau anh A cầm dao đâm anh B bị thương, dù có nhiều người ngăn cản nhưng anh A vẫn cố tình đâm anh B nhiều nhát, thậm chí đuổi theo anh B đến cùng trong lúc anh B bỏ chạy để đâm nhiều nhát vào tim với ý định giết anh B. Như vậy anh A có hành vi giết người với yếu tố cố tình thực hiện hành vi phạm tội đến cùng.

Thứ sáu, thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên hoặc là hành vi tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Đối với những hành vi phạm tội từ 2 lần trở lên, tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm là những trường hợp hành vi phạm tội được lặp lại nhiều lần. Dù biết đây là hành vi trái với quy định của pháp luật, gây nguy hiểm hoặc ảnh hưởng xấu đến xã hội hoặc người khác nhưng vẫn cố tình thực hiện từ lần này đến lần khác. Đó là những trường hợp người phạm tội vẫn ngoan cố thực hiện tội phạm dù đã từng bị xử phạt, không ăn năn hối cải mà vẫn vi phạm pháp luật.

Thứ bảy. thực hiện hành vi phạm tội đối với những đối tượng đặc biệt như trẻ em, trẻ vị thành niên, phụ nữ đang mang thai, người già, những người không có khả năng tự bảo vệ bản thân mình, những người lệ thuộc vào người có hành vi phạm tội hoặc lợi dụng những hoàn cảnh đặc biệt để phạm tội.

Đối với những đối tượng bị thực hiện hành vi phạm tội thuộc vào nhóm đối tượng này thường là những người yếu thế cần được bảo vệ trong xã hội. Họ thường là hững người không có khả năng tự vệ nên dễ bị xâm phạm đến quyền lợi, trong đó những nhóm người như phụ nữ đang mang thai, người già, người khuyết tật là những đối tượng đặc biệt hơn bởi khả năng phòng vệ hầu như ít hơn những nhóm đối tượng khác rất nhiều nên người phạm tội dễ thực hiện hành vi phạm tội đối với những người này.

Ngoài ra, đối với những trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội lợi dụng những hoàn cảnh đặc biệt như tình trạng như bão lụt, hạn hán, chiến tranh, dịch bệnh để thực hiện hành vi phạm tội. Việc thực hiện hành vi phạm tội trong hoàn cảnh này cũng được xếp vào các tình tiết tăng nặng bởi những vấn đề xã hội đang cần được quan tâm, được giải quyết thì người phạm tội lợi dụng những hoàn cảnh này để đạt được mục đích của mình.

Thứ tám, người vi phạm phạm tội chuyên nghiệp, có thủ đoạn tinh vi, tàn ác gây nguy hại cho người khác để thực hiện hành vi phạm tội.

Đây là những tình tiết được xác định người phạm tội đã từng vi phạm rất nhiều lần với những mánh khóe, hành vi thâm hiểm cho người khác. Có sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm che đậy hành vi phạm tội, làm cho người khác không thể nào lường trước được hoặc đối với những đối tượng thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần và xem việc hành vi phạm tội là nghề kiếm sống chính của mình. Như vậy đối với những người thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất chuyên nghiệp nhiều thủ đoạn sẽ làm cho người khác không có khả năng phòng bị, dễ thực hiện được hành vi phạm tội nên đây cũng được xét là những tình tiết tăng nặng trong khi truy cứu trách nhiệm hình sự.

 Thứ chín người có hành vi phạm tội có hành vi xúi giục người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi tội phạm.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài:024.6294.9155

Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, chưa có đủ năng lực hành vi dân sự, chưa nhận biết được mức độ nguy hiểm của từng hành vi mình gây ra. Việc xúi giục người chưa đủ nhận thức về hành vi của mình là lợi dụng người khác để thực hiện hành vi phạm tội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tương lai của những người phạm tội sau này. Đây là nhóm đối tượng còn nhỏ tuổi, ít va chạm nên nhiều đối tượng lợi dụng những điểm yếu này để xúi giục những người này thay họ thực hiện hành vi phạm tội gây ra sự ảnh hưởng đến người khác và xã hội.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trên phải là những tình tiết không phải là dấu hiệu định tội hay định khung cho một tội khác, những tình tiết tăng nặng này chỉ được áp dụng khi không được quy định trong cấu trúc của các điều luật. Về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong hoạt động tố tụng thể hiện trong văn bản tố tụng là bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên trong quá trình thi hành không có quy đinh nào quy định việc áp dụng các tình tiết tăng nặng thì tội danh tội danh nặng hơn. Do đó trong quá trình áp dụng cần có văn bản hướng dẫn để có có cách hiểu và áp dụng thống nhất hơn với các tình tiết tăng nặng khi truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam