|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2023/HS-ST Ngày 22-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu
Ông Nguyễn Văn Trình
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an thành phố Đ, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2022/TLST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Phan Thanh Đ (Nhỏ); sinh ngày: 06/4/1993; Nơi sinh: Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Tổ B, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Phan Văn A; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N; Gia đình có 06 người con, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2010, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng xử phạt 27 tháng tù giam; Năm 2012 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù; Năm 2014 bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù; Năm 2016 bị Công an quận S, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Năm 2017 bị Tòa án nhân dân quận S thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn thời hạn 18 tháng; Năm 2020 bị Tòa án nhân dân quận S thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn thời hạn 24 tháng; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/7/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam H, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
- Lê Quốc V; sinh ngày: 20/6/1992; nơi sinh: Đà Nẵng; nơi cư trú: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ: Lê Thị H; bị cáo là con một; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/7/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam H, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm: 1978 và bà Nguyễn Thị Bích V1, sinh năm: 1979; Cùng địa chỉ cư trú: 73 đường Đ, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; có đơn xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Thái S, sinh năm: 1994; Địa chỉ: phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; có đơn xét xử vắng mặt.
- + Bà Hoàng Thị Minh P, sinh năm:1986; Địa chỉ: phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Hoàng Nguyệt T1, sinh năm: 1996; Địa chỉ: phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
- + Bà Lê Thị H, sinh năm: 1956; Địa chỉ: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Tổ B, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 02 giờ ngày 10/7/2023, Phan Thanh Đ rủ Lê Quốc V đi trộm cắp tài sản thì V đồng ý. V điều khiển xe Attila, màu đỏ, biển kiểm soát 43D1-51378 chở Đ đi từ phòng trọ của V ở kiệt F T, Hòa P1, C, Đà Nẵng đến trước nhà ông Nguyễn Tấn T ở số G đường Đ, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện cửa sổ tầng hai không đóng nên cả hai dừng lại. Sau khi quan sát không có người xung quanh, V đứng ở ngoài đường để cảnh giới còn Đ leo lên mái hiên rồi trèo vào cửa sổ tầng hai để vào nhà. Đ đi vào phòng ngủ gần cửa sổ quan sát thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng trị giá 6.363.000 đồng và 01 ví da nam bên trong có một số giấy tờ cá nhân của ông T, bên trong có số tiền mặt 2.000.000 đồng ở trên giường nên lén lút lấy bỏ vào túi quần. Sau đó, Đ tiếp tục đi qua phòng ngủ kế bên, lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 màu xanh trị giá 2.324.000 đồng của bà Nguyễn Thị Bích V1 (vợ ông T) rồi tẩu thoát bằng đường cũ. Sau đó, Đ lên xe để V chở phòng trọ. Tại đây, Đ chia cho V 1.000.000 đồng, Đ giữ 1.000.000 đồng, cả hai đã tiêu xài hết.
Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Đ tháo sim từ điện thoại Oppo gắn vào điện thoại Nokia của V, sau đó vào mục tin nhắn, soạn cú pháp “TTTB” gửi đến tổng đài 1414 để nhận thông tin chủ thuê bao. Sau khi nhận được tin nhắn từ tổng đài gồm tên chủ thuê bao, ngày tháng năm sinh và số căn cước công dân thì Đ đọc thông tin ngày tháng năm sinh của chị V1 để V nhập vào mật khẩu màn hình mở được khoá điện thoại Oppo. Sau đó, V đưa điện thoại lại cho Đ để kiểm tra thì tin nhắn từ tài khoản ngân hàng số 0041000271368 V2 của chị V1 báo còn 3.4000.000 đồng nên Đ và V nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này. Để rút được tiền, Đ vào ví điện tử M do bị hại lập sẵn trong điện thoại, nhấn vào mục “quên mật khẩu” thì tổng đài gọi điện thoại cung cấp mã “OTP” mới, Đ nhập mã “OTP” rồi nhấn “đổi mật khẩu” thì cài đặt thành công. Tiếp tục, Đ vào mục “nạp tiền” và chọn “liên kết đến ngân hàng V2” của chị V1. Lúc này, tổng đài yêu cầu nhập số tài khoản ngân hàng và số căn cước công dân của chị V1 thì Đ nhập theo thông tin đã lấy trước đó thì ứng dụng báo “liên kết thành công”. Sau đó, Đ tiến hành chuyển số tiền 3.400.000 đồng vào tài khoản Momo của chị V1. Do hạn mức ví M chỉ cho giao dịch mỗi lần là 2.000.000 đồng nên Đ tiến hành chuyển hai lần, lần một là 2.000.000 đồng, lần hai là 1.4000.000 đồng. Tiếp tục, Đ dùng ví Momo của chị V1 chuyển số tiền 3.400.000 đồng vào tài khoản nạp tiền chơi điện tử của mình có tên “Nguyen Trung Q” rồi quy đổi 1.000.000 đồng chuyển vào số tài khoản ngân hàng của V.
Khoảng 10 giờ ngày 10/7/2023, Đ mang điện thoại Iphone XS Max đến tiệm Đ1 ở số E T (anh Thái S làm chủ) và bán được 1.500.000 đồng. Khi bán, Đ nói với anh S: “Đây là điện thoại do bạn cầm nhưng không lấy về, do không liên lạc được nên Đ cầm đi bán xác”, anh S hỏi: “Có phải điện thoai trộm cắp hay không?” thì Đ trả lời “không phải” nên anh S đồng ý mua. Anh S đã bán lại cho người khác (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) được 2.100.000 đồng. Sau đó, Đ đến tiệm tạp hoá nhờ người chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của V số tiền 400.000 đồng. Riêng điện thoại Oppo Đ để sử dụng, ví và giấy tờ bên trong Đ để lại ở phòng trọ của V.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu Oppo A57, màu xanh;
- 01 (một) điện thoại Nokia bàn phím số, màu đen không gắn sim của V;
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu SYM Attila, màu đỏ, BKS 43D1-51378;
- 01 thẻ căn cước công dân tên Nguyễn Tấn T;
- 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Tấn T;
- 01 thẻ Đảng viên tên Nguyễn Tấn T;
- 01 thẻ Hội thẩm nhân dân tên Nguyễn Tấn T.
Tại kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 256GB, mua vào năm 2020 trị giá 6.363.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 màu xanh, mua vào năm 2021, trị giá 2.324.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 10.687.000 đồng
Bản cáo trạng số 94/CT-VKSCL ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố các bị cáo Phan Thanh Đ và Lê Quốc V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Thanh Đ từ 12 đến 15 tháng tù; xử phạt bị cáo Lê Quốc V từ 09 đến 12 tháng tù.
+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Thanh Đ từ 09 đến 12 tháng tù; xử phạt bị cáo Lê Quốc V từ 06 đến 09 tháng tù.
+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo Phan Thanh Đ phải chịu từ 21 đến 27 tháng tù; bị cáo Lê Quốc V phải chịu từ 15 đến 21 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động Nokia của Lê Quốc V.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
* Các bị cáo nói lời nói sau cùng:
- Bị cáo Phan Thanh Đ: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về gia đình.
- Bị cáo Lê Quốc V: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận, bị cáo là con một, là lao động chính trong gia đình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 10/7/2023, tại số G Đ, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Phan Thanh Đ cùng Lê Quốc V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng, 2.000.000 đồng của ông Nguyễn Tấn T và 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Oppo A57 màu xanh của bà Nguyễn Thị Bích V1, với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.687.000 đồng (Mười triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng). Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, tại phòng trọ ở kiệt F T, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, Đ và V đã có hành vi sử dụng thông tin tài khoản thuê bao, tài khoản ngân hàng của chị Nguyễn Thị Bích V1 để liên kết với tài khoản ví thanh toán điện tử M rồi chiếm đoạt số tiền 3.400.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của chị V1.
Hội đồng xét xử xác định: Các bị cáo Phan Thanh Đ, Lê Quốc V đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Tấn T, bà Nguyễn Thị Bích V1, chiếm đoạt tài sản của ông T bà V1 với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.687.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đã có hành vi sử dụng điện thoại Nokia của bị cáo V; sử dụng điện thoại OPPO, sử dụng thông tin tài khoản thuê bao, tài khoản ngân hàng của bị hại để thực hiện các thao tác nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 3.400.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của bị hại. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự như cáo trạng số 94/CT-VKSCL ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
[3.1] Đây là vụ án ít nghiêm trọng, có 02 bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công vai trò nên đây chỉ là đồng phạm giản đơn. Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy:
[3.1.1] Bị cáo Phan Thanh Đ có vai trò là người khởi xướng, rủ rê bị cáo V thực hiện hành vi trộm cắp; bị cáo Đ trực tiếp leo lên mái hiên nhà, trèo vào cửa sổ tầng hai để vào nhà bị hại lấy tài sản; sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo Đ trực tiếp tháo sim từ điện thoại Oppo gắn vào điện thoại Nokia của V, sau đó vào mục tin nhắn soạn cú pháp “TTTP” gửi đến tổng đài 1414 để nhận thông tin chủ thuê bao; Đ kiểm tra tài khoản ngân hàng của bị hại rồi chuyển số tiền 3.400.000đồng vào tài khoản ví điện tử Momo của bị hại, sau đó Đ dùng ví Momo của bị hại chuyển số tiền 3.400.000đồng vào tài khoản nạp tiền chơi điện tử của Đ, sau đó Đ quy đổi 1.000.000đồng chuyển vào số tài khoản ngân hàng của V.
[3.1.2] Bị cáo Lê Quốc V sau khi nghe bị cáo Đ rủ rê đi trộm cắp tài sản thì đồng ý ngay, bị cáo V vai trò là đồng phạm giúp sức, bị cáo có nhiệm vụ cảnh giới cho bị cáo Đ. Sau khi Đ chiếm đoạt được điện thoại của bị hại, bị cáo V đưa điện thoại Nokia của bị cáo cho bị cáo Đ để Đ gắn sim của điện thoại bị hại vào, sau khi Đ có được thông tin của bị hại, Đ đọc thông tin cho V để V nhập mật khẩu vào màn hình mở được khóa điện thoại Oppo.
[3.1.3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Tổng số tiền chiếm đoạt được 6.900.000đồng (2.000.000đồng tiền mặt, 3.400.000đồng chuyển từ tài khoản của chị V1, bán điện thoại XS Max 1.500.00đồng), Đ chia cho V 2.400.000đồng (trong đó tiền mặt 1.000.000đ ồng, chuyển kho ản 2 lần 1.400.000đ ồng), số ti ền còn lại 4.500.000đồng Điệp tiêu xài cá nhân.
[3.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
[3.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn bãi nại về dân sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Bị cáo Đ là người khởi xướng, rủ rê, có nhân thân xấu; bị cáo V có vai trò giúp sức, có nhân thân tốt; số tiền chiếm đoạt được Đ chia cho V ít hơn. Do vậy, bị cáo Đ phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo V, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, gia đình các bị cáo đã bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn bãi nại, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
[6.1] Đối với điện thoại đi động nhãn hiệu Oppo A57 màu xanh và các giấy tờ cá nhân của ông T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích V1 và ông Nguyễn Tấn T.
[6.2] Đối với 01 ví da của ông T, do không còn giá trị nên ông T không yêu cầu định giá tài sản và không yêu cầu bồi thường.
[6.3] Đối với 01 xe máy nhãn hiệu SYM Attila, màu đỏ, biển kiểm soát 43D1-51378 do bà Hoàng Thị Minh P đứng tên chủ sở hữu, bà P giao xe cho con gái là chị Nguyễn Hoàng Nguyệt T1 để sử dụng, chị T1 cho Đ mượn xe nhưng không biết Đ sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý và trả lại xe cho bà P là có cơ sở.
[6.4] Đối với 01 điện thoại Nokia bàn phím số màu đen không gắn sim của V, là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[7] Tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Các bị cáo Phan Thanh Đ và Lê Quốc V phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phan Thanh Đ 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phan Thanh Đ 09 (Chín) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội bị cáo phải chấp hành là 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt, ngày 14/7/2023.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Quốc V 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Quốc V 06 (Sáu) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội bị cáo phải chấp hành là 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt, ngày 14/7/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen, không có sim, ốp lưng bị vỡ. (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20/11/2023).
- Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 12 tháng 6 năm 2020
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 97/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản và sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 97/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh Đ và Lê Quốc V phạm tội Trộm cắp tài sản
