Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/HS-ST

Ngày: 22/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Hà.

Ông Lâm Hoàng Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tánh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Vương Kim H (tên thường gọi là Kiến); Sinh ngày: 26/02/1986; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 815/3E đường NT, Phường N, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 7.10 chung cư TĐH - Số 45 đường TĐH, Phường P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 2/12 (bị cáo khai biết đọc, biết viết); Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vương Lợi Q (chết) và bà: Châu Mẫn H1; Có vợ: Là bà Thạch Thị T (không đăng ký kết hôn) và con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/8/2023.

Nhân thân: Ngày 25/4/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 41/2017/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 26/7/2018 (Giấy chứng nhận số: 672/GCN-CS3 ngày 23/7/2018 của Cơ sở cai nghiện ma túy Số 3).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Thạch Thị T; Sinh năm: 1995; Thường trú: Ấp CN, xã AN, huyện CT, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: 7.10 chung cư TĐH - Số 45 đường TĐH, Phường P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. (có mặt)

  3. Ông Hồng Trí L; Sinh năm: 1981; Trú tại: 42L2 đường NAK, Phường M, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. (vắng mặt)

  5. Bà Nguyễn Ngọc Phương T1; Sinh năm: 1988; Trú tại: 560/10 đường TC, Phường M, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh.
  6. (vắng mặt)

  7. Ông Đoàn Dương Phương C; Sinh năm: 1989; Trú tại: 801/3/7A đường XVNT, Phường AF, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.
  8. (vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

Các ông Bùi Tấn Phát, Lê Chăn Tha, Nguyễn Trí Dũng, Phạm Hồng Khánh - Là cán bộ, chiến sĩ Hỗ trợ tư pháp thuộc nhà tạm giữ Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

(đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 23/8/2023, Tổ công tác 363 - Số 2 thuộc Công an Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Vương Kim H đang điều khiển xe gắn máy biển số 59P3-058.42 chạy đến trước nhà số 905A đường LG, Phường E, Quận F có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, đã thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của H 01 túi vải màu vàng, bên trong túi vải có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (H khai là ma túy đá). Sau đó, tổ công tác đã giao H cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Vương Kim H khai: Khoảng 12 giờ ngày 23/8/2023, H gọi điện thoại cho một người tên T2 (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy đá giá 1.000.000 đồng để sử dụng. Sau đó, H điều khiển xe gắn máy biển số 59P3-058.42 đến điểm hẹn tại khu vực trước nhà số 99 đường QS, Phường K, Quận K gặp T2 nhận ma túy. Sau khi cất gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải, H điều khiển xe chạy về đến trước nhà số 905A đường LG thì bị kiểm tra bắt giữ như nêu trên.

Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Trạm y tế Phường 5, Quận 6, Vương Kim H dương tính với Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số: 9299/KL-KTHS ngày 31 tháng 8 năm 2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 gói được

niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Vương Kim H, Nguyễn Phi H2 (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 5, Quận 6. Bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,3369g (hai phẩy ba ba sáu chín gam), loại Methamphetamine.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 135/QĐ-ĐCSMT); khởi tố bị can đối với Vương Kim H về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 136/QĐ-ĐCSMT).

Đối với người đàn ông tên T2 bán ma túy cho Vương Kim H tại khu vực trước nhà số 99 đường QS, Phường K, Quận K, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch.

Tại Cáo trạng số: 100/CT-VKS-Q6 ngày 23 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vương Kim H về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Vương Kim H khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi cất giữ 01 gói ma túy tổng hợp (loại Methamphetamine hay còn gọi là ma túy đá) để sử dụng và bị Công an phát hiện bắt quả tang vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 23/8/2023 tại trước nhà số 905A đường LG, Phường E, Quận F như nội dung bản cáo trạng nêu;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Thạch Thị T khai: Chiếc xe gắn máy biển số 59P3-058.42, số khung: RLHJF5838LZ408311, số máy: JF86E-5115164 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, số loại Vision, sơn màu Đen Nâu, dung tích 108.2) mà Công an thu giữ của bị cáo Vương Kim H là xe của bà. Bà mua lại chiếc xe này từ ông Hồng Trí L vào ngày 01/4/2023 với giá 40.000.000 đồng (có Giấy chứng nhận đăng ký xe do bà Nguyễn Ngọc Phương T1 đứng tên). Theo thỏa thuận, bà trả trước cho ông L 10.000.000 đồng, số còn lại ông L đồng ý cho bà trả góp mỗi tháng 3.000.000 đồng và bà đã góp được 08 kỳ, tổng cộng là 24.000.000 đồng (có giấy xác nhận của ông L), còn lại 02 kỳ bà vẫn đang tiếp tục trả góp cho ông L theo như thỏa thuận. Ngày 23/8/2023, bà để xe ở nhà thì chồng của bà là bị cáo Vương Kim H lấy xe đi và sau đó sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, bà hoàn toàn không biết. Nay, bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả chiếc xe cho bà để bà có phương tiện đi làm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vương Kim H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Vương Kim H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, có ghi chữ Samsung, số Imei 1: 354565116866660, số Imei 2: 354566116866668, đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Vương Kim H và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 9299 (1865/23), có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ điều tra Võ Đăng Khoa. Bên trong chứa ma túy thể rắn (loại Methamphetamine) có khối lượng 1,9278 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi vải màu vàng; 01 sim điện thoại số 0903.625.xxx.

Trả lại bà Thạch Thị T 01 chiếc xe gắn máy biển số 59P3-058.42, số khung: RLHJF5838LZ408311, số máy: JF86E-5115164 (loại xe hai bánh từ 50-175cm³, số loại Vision, sơn màu Đen Nâu, dung tích 108.2).

Lời nói sau cùng, bị cáo Vương Kim H nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Vương Kim H tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 9299/KL-KTHS ngày 31/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vương Kim H đã phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Bị cáo Vương Kim H đã cất giữ chất ma túy ở thể rắn và thời điểm bắt quả tang (vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 23/8/2023 tại trước nhà số 905A đường LG, Phường E, Quận F) đã thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của bị cáo 01 gói nylon, bên trong có 2,3369 gam ma túy, loại Methamphetamine (bị cáo khai

số ma túy này là của bị cáo mua và cất giữ để dành sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác). Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Bị cáo Vương Kim H là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn lối sống không Lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[3] Về nhân thân của bị cáo Vương Kim H: Ngày 25/4/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy. Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội, nhưng ngược lại, vẫn tiếp tục sống buông thả và phạm tội. Cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Vương Kim H là nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Vương Kim H còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, không

có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Việc xử lý vật chứng:

[7.1] Phương tiện mà bị cáo Vương Kim H dùng vào việc phạm tội là 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, có ghi chữ Samsung, số Imei 1: 354565116866660, số Imei 2: 354566116866668, đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Vương Kim H và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7.2] Đối với 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 9299 (1865/23), có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ điều tra Võ Đăng Khoa. Bên trong chứa ma túy thể rắn (loại Methamphetamine) có khối lượng 1,9278 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi vải màu vàng; 01 sim điện thoại số 0903.625.xxx (trong chiếc điện thoại Samsung màu xanh), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7.3] Đối với chiếc xe gắn máy biển số 59P3-058.42 thu giữ của bị cáo Vương Kim H (bị cáo khai là xe của bà Thạch Thị T - vợ bị cáo). Theo Kết luận giám định số: 5584/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh (BL67) và Phiếu trả lời xác minh ngày 23/8/2023 của Công an Quận 6 (BL65) thì chiếc xe này có số máy: JF86E-5115164, số khung: RLHJF5838LZ408311 (loại xe hai bánh từ 50-175cm³, số loại Vision, sơn màu Đen Nâu, dung tích 108.2), do bà Nguyễn Ngọc Phương T1 đứng tên chủ xe. Tại phiên tòa, bà Thạch Thị T khai mua chiếc xe này từ ông Hồng Trí L với giá 40.000.000 đồng bằng hình thức trả góp và bà đã góp được tổng cộng 34.000.000 đồng, số tiền còn lại bà vẫn đang thực hiện theo như thỏa thuận. Quá trình điều tra, ông L khai mua lại chiếc xe biển số 59P3-058.42 từ bà Nguyễn Ngọc Phương T1 (có làm Hợp đồng ủy quyền được Công chứng viên Phòng công chứng HĐT chứng thực - phù hợp lời khai của bà T1 và lời khai của ông Đoàn Dương Phương C, là người được bà T1 ủy quyền bán xe). Sau khi mua xe, Ông L đã bán lại cho bà Thạch Thị T với giá 40.000.000 đồng, theo thỏa thuận bà T trả trước cho ông L 10.000.000 đồng, số còn lại ông L đồng ý cho bà T trả góp trong 10 tháng, mỗi tháng góp 3.000.000 đồng và ông L xác nhận bà T đã góp cho ông được 08 kỳ (tổng cộng là 24.000.000 đồng), số tiền còn lại ông và bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết (theo Biên bản ghi lời khai ngày 03/11/2023 của Công an Quận 6 và Đơn tường trình ngày 22/12/2023 của ông Hồng Trí L). Xét thấy chiếc xe gắn máy biển số 59P3-058.42 có giấy tờ, nguồn gốc hợp pháp, việc

bị cáo tự ý lấy xe đi, sau đó sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, bà T không biết, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát là trả chiếc xe lại cho bà T theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Còn số tiền mà phía bà T mua xe chưa góp trả hết cho ông L, ông L không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 135/PNK ngày 18 tháng 11 năm 2023 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 91/QĐ-VKS-Q6 ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)

[8] Đối với người tên T2 mà bị cáo Vương Kim H khai bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[9] Mặc dù tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vương Kim H khai đã nhiều lần mua ma túy của T2 để sử dụng, nhưng xét ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp «Phạm tội 02 lần trở lên».

[10] Về án phí: Bị cáo Vương Kim H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Xử phạt bị cáo Vương Kim H (Kiến) 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2023.
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, có ghi chữ Samsung, số Imei 1: 354565116866660, số Imei 2: 354566116866668, đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Vương Kim H và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 9299 (1865/23), có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ điều tra Võ Đăng Khoa. Bên trong chứa ma túy thể rắn (loại Methamphetamine) có khối lượng 1,9278 (một phẩy chín hai bảy tám) gam; 01 (một) túi vải màu vàng; 01 (một) sim điện thoại số 0903.625.xxx.
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Trả lại bà Thạch Thị T 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59P3-058.42, số khung: RLHJF5838LZ408311, số máy: JF86E-5115164 (loại xe hai bánh từ 50-175cm³, số loại Vision, sơn màu Đen Nâu, dung tích 108.2).
  • (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Bị cáo Vương Kim H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  • Bị cáo Vương Kim H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Thạch Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 6;
  • - Công an Quận 6;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS Quận 6;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Thùy Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 86/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Vương Kim H (Kiến) 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2023. - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, có ghi chữ Samsung, số Imei 1: 354565116866660, số Imei 2: 354566116866668, đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Vương Kim H và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. - Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 9299 (1865/23), có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ điều tra Võ Đăng Khoa. Bên trong chứa ma túy thể rắn (loại Methamphetamine) có khối lượng 1,9278 (một phẩy chín hai bảy tám) gam; 01 (một) túi vải màu vàng; 01 (một) sim điện thoại số 0903625823. - Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bà Thạch Thị T 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59P3-058.42, số khung: RLHJF5838LZ408311, số máy: JF86E-5115164 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, số loại Vision, sơn màu Đen Nâu, dung tích 108.2). (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 12 năm 2023giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Vương Kim H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. - Bị cáo Vương Kim H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Thạch Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger