|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2023/HSST Ngày 21 - 12 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nông Thị Hồng Thắm;
Bà Nông Thị Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 68/2023/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Triệu Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 11 năm 1988, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ngõ D, thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn lớp 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn P (đã chết) và bà Trần Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị xử lý trách nhiệm hình sự tại Bản án số 31/2014/HS-ST ngày 26/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 03/01/2020 Triệu Văn T đã chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích); chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ, tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn (từ 23 giờ 52 ngày 28/8/2023 đến 19 giờ 00 phút ngày 30/8/2023), được trả tự do. Bị cáo bị Công an huyện T bắt tạm giam tiếp từ ngày 14/10/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay, có mặt.
2. Hoàng Phi H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 9 năm 1994, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn A (đã chết) và bà Ma Thị M; có vợ: Hoàng Huệ M; con: Có 02 con, con lớn sinh 2016, con nhỏ sinh 2022; tiền án: Không có; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự; ngày 24/5/2019, bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng. Đến ngày 23/8/2019, chấp hành xong; ngày 12/8/2019, bị Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 07/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc 20 tháng theo Quyết định số 16/QĐ-TA, chưa bị kỷ luật; bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 02/10/2023 cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Huệ M1, sinh năm 1979
- Bà Nông Thị C, sinh năm 1964.
Trú tại: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
Trú tại: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
Người làm chứng:
Bà Nông Thị Hương L, sinh năm 1981.
Trú tại: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 00 phút ngày 28/8/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra (CSĐT) tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Hoàng Phi H và Triệu Văn T đang dừng xe cạnh đường, có biểu hiện nghi vấn. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra thì Hoàng Phi H chạy thoát, Triệu Văn T bị bắt giữ. Tiến hành kiểm tra tại khu vực xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 12T1 – 215.05 do các đối tượng để lại phát hiện: 01 gói chất bột màu trắng nghi là chất ma túy được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ; tiến hành kiểm tra xe mô tô Honda wave BKS 12T1- 215.05 bên trong cốp xe có 01 căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Phi H, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 12001444 mang tên Nông Thị C; 01 điện thoại di dộng màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vsmart màu xanh số IMEI 358877980593759, lắp 01 sim số 0372.898.595 thu giữ tại túi quần của Triệu Văn T; 01 điện thoại di dộng màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu xanh của Hoàng Phi H (đã bỏ chạy). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc đối với Triệu Văn T và thu giữ tang vật, đồ vật, tài sản nêu trên.
Cùng ngày 28/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành xác định hiện trường tại nhà nghỉ B có địa chỉ tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn (nơi H và T có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy) phát hiện, thu giữ: 01 vỏ lọ nước cất thủy tinh có in dòng chữ Novocain 3% đã bị vỡ phần đầu, trong lọ không còn đựng dung dịch; 01 xi lanh 03 ml còn kim tiêm; 01 bật lửa gas nhãn hiệu Thống Nhất màu đỏ; 03 mảnh giấy bạc màu trắng hình chữ nhật diện 3cm x 6cm.
Tại Kết luận giám định số 894/KL-KTHS ngày 31/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy, được niêm phong trong 01 phong bì có chữ Tang vật nghi ma túy thu giữ tại biên bản sự việc ngày 28/8/2023 đối với Triệu Văn T là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,183 gam (đã trừ bì).
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Triệu Văn T và Hoàng Phi H khai nhận như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 28/8/2023, tại thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Triệu Văn T mua được 03 gói ma túy Heroin với 01 người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) rồi bắt xe khách đến khu vực Bưu điện huyện T, tỉnh Lạng Sơn. T gọi điện thoại cho Hoàng Phi H ra đón (do trước đó T đã gọi điện thoại cho H nói sẽ mang ma túy lên để cùng nhau sử dụng, H đã đồng ý). H điều khiển xe môtô BKS: 12T1 – 215.05 đón và đưa T cùng vào nhà nghỉ B tại khu B, thị trấn T, huyện T. Tại nhà nghỉ B, H sử dụng căn cước công dân của mình để làm thủ tục thuê phòng 303 với bà Nông Thị Hương L (chủ nhà nghỉ) để làm địa điểm cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phòng nghỉ, T lấy từ trong túi quần ra 02 gói ma túy Heroin rồi đưa cho H 01 gói, H lấy xilanh và nước cất đã chuẩn bị từ trước đem theo pha với gói chất ma túy mà T đưa cho để chích vào cơ thể tại ghế trong phòng. Còn T ngồi xuống ghế, lấy gói ma túy còn lại đổ lên giấy bạc và sử dụng bật lửa hơ tờ giấy bạc rồi hít ma túy qua mũi vào cơ thể. Sử dụng ma túy xong, H đem xi lanh và vỏ lọ nước cất đặt ở bồn rửa mặt, T đốt giấy bạc trong phòng tắm để tiêu hủy. Sau khi cả hai cùng sử dụng ma túy xong, H đi xuống quầy lễ tân trả tiền phòng nghỉ rồi lên gọi T xuống điều khiển xe môtô BKS: 12T1 - 215.05 chở H đi chơi. Khi đi đến khu vực thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn thì T dừng xe lại và lấy 01 gói ma túy cất ở túi quần bên phải đưa cho H để H về sử dụng. H cầm gói ma túy rồi cùng T nói chuyện thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, H đã bỏ chạy và vứt lại gói ma túy, điện thoại, xe máy tại hiện trường.
Với nội dung sự việc trên, tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSTĐ ngày 28/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H phạm các tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Phi H, Triệu Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện vi của mình, mục đích của bị cáo T đi mua ma túy về để cùng H tổ chức sử dụng sau khi mua được ma túy T gọi điện thoại cho H và hẹn gặp H để cùng nhau bàn bạc thống nhất H bỏ tiền ra thuê phòng nghỉ làm địa điểm tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy, còn T là người cung cấp chất ma túy.
Tại phiên tòa chị Hoàng Huệ M1 đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc mô tô BKS: 12T1 - 215.05 cho chị M1, vì chiếc xe trên là do chị M1 bỏ tiền ra mua trả góp và nhờ bà Nông Thị C là bác họ của H đứng tên đăng ký, tài sản này không liên quan đến bị cáo H, khi bị cáo đem đi không hỏi chị và không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa bà Nông Thị C, vắng mặt, tại biên bản lấy lời khai bà C thừa nhận là người đứng tên đăng ký chiếc xe mô tô BKS: 12T1 - 215.05 cho chị M1, chị M1 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS: 12T1 - 215.05 không liên quan gì đến bà C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định trong phần tranh luận, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét tuyên bố các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma Túy, áp dụng khoản 1 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt hai tội bị cáo phải chấp hành từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù (bị cáo T được trừ đi thời gian tạm giữ 02 ngày, (từ 23 giờ 52 ngày 28/8/2023 đến 19 giờ 00 phút ngày 30/8/2023). Xử phạt bị cáo Hoàng Phi H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt hai tội bị cáo phải chấp hành từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 Phong bì niêm phong đựng tang vật của bị cáo Triệu Văn T thu giữ ngày 28/8/2023. Bên trong phong bì đựng 0,149 gam chất ma túy Heroin và 01 vỏ bao gói cũ, 01 lọ nước cất bị vỡ phần đầu; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 01 bật lửa màu đỏ; 03 mảnh giấy bạc hình chữ nhật; tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, của của bị cáo Triệu Văn T; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu xanh của Hoàng Phi H; trả cho bị cáo Triệu Văn T 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi màu xanh ngọc; trả cho chị Hoàng Huệ M1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 123T1-215.05 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 12001444 mang tên Nông Thị C; trả cho bị cáo Hoàng Phi H 01 căn cước công dân số [...].
Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, xử cho bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt bà Nông Thị C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng chị Nông Thị Hương L là người làm chứng, xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai, việc vắng mặt bà C, chị L không ảnh hưởng đến phiên tòa. Căn cứ các Điều 292, 293 Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
- Về hành vi cấu thành tội phạm đối với các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng truy tố, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Cụ thể khoảng 20 giờ ngày 28/8/2023, tại nhà nghỉ B, khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Phi H đã bỏ tiền ra thuê phòng nghỉ làm địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Triệu Văn T là người cung cấp chất ma túy để cho T và H cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xong thì T đưa cho H 01 gói ma túy Heroin có khối lượng 0,183 gam (đã trừ bì) với mục đích để cho H sử dụng sau. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H phạm các tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được việc Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến trật tự, an ninh xã hội, gây nguy hại lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo bị xã hội lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của các bị cáo gây ra cần phải bị xử lý nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, mới có thể giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung. Trong vụ án này bị cáo Triệu Văn T có vai trò chính, là người trực tiếp khởi sướng mua ma túy để sử dụng. Trong vụ án các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H tham gia với vai trò đồng phạm, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, và vai trò của các bị cáo trong vụ án khác nhau. Để có mức án thỏa đáng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như sau:
- Xét về nhân thân: Bị cáo Triệu Văn T tiền án, tiền sự: không có. Nhân thân: có nhân thân xấu; đã bị bị xử lý trách nhiệm hình sự tại Bản án số 31/2014/HS-ST ngày 26/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 03/01/2020 Triệu Văn T đã chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích), chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét về vai trò thì bị cáo Triệu Văn T là người khởi xướng mua chất ma túy, sau khi mua ma túy xong bị cáo gọi điện thoại cho bị cáo H tìm địa điểm cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó mức án của bị cáo T sẽ cao hơn đối với mức án của bị cáo H.
- Xét về nhân thân: Bị cáo Hoàng Phi H, tiền án, tiền sự: không có. Nhân thân: có nhân thân xấu; đã bị xử phạt vi phạm hành chính cụ thể: Ngày 24/5/2019 bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng. Đến ngày 23/8/2019, chấp hành xong; ngày 12/8/2019, bị Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng theo Quyết định số 16/QĐ-TA, ngày 07/11/2019 (đã được xóa); về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về vai trò bị cáo là đồng phạm, bị cáo không phải là người mua ma túy, tuy nhiên bị cáo là người giúp sức cho bị cáo T, trực tiếp bỏ tiền thuê phòng nghỉ tại Nhà nghỉ B để làm địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, khi quyết định hình phạt bị cáo sẽ có mức án thấp hơn đối với bị cáo T.
- Về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, và UBND xã T, huyện V, các bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, đề nghị về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, không dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; xử lý vật chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, nên được chấp nhận.
- Đối với người đàn ông tên H1 bán ma túy cho Triệu Văn T tại khu vực thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý trong vụ án này.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS 12T1-215.05 kèm theo chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 12001444 do chị Hoàng Huệ M1 là vợ của bị cáo Hoàng Phi H mua trả góp vào khoảng tháng 08/2021 và nhờ bà Nông Thị C là bác họ của bị cáo H đứng tên đăng ký xe môtô. Ngày 28/8/2023, chị M1 không biết việc Hoàng Phi H sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần trả lại chiếc xe cho chị Hoàng Huệ M1.
- Đối với chủ nhà nghỉ B tại khu B, thị trấn T, huyện T, ngày 28/8/2023 có cho các bị áo T và H vào thuê phòng để nghỉ. Chủ nhà nghỉ không biết các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng nghỉ nên không đề nghị xử lý trong vụ án này.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điển a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 Phong bì niêm phong đựng tang vật của bị cáo Triệu Văn T thu giữ ngày 28/8/2023. Bên trong phong bì đựng 0,149 gam chất ma túy Heroin và 01 vỏ bao gói cũ, 01 lọ nước cất bị vỡ phần đầu; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 01 bật lửa mà đỏ; 03 mảnh giấy bạc hình chữ nhật; tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, của bị cáo Triệu Văn T; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu xanh của Hoàng Phi H. Trả cho bị cáo Triệu Văn T 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi màu xanh ngọc; trả cho chị Hoàng Huệ M1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 123T1-215.05 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 12001444 mang tên Nông Thị C; trả cho bị cáo Hoàng Phi H 01 căn cước công dân số [...] (những vật chứng trên không liên quan đến việc phạm tội).
- Về án phí: Buộc các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm a, b Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 55,: Điều 58 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối vớ các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt chính:
- Xử phạt bị Triệu Văn T 03 (ba) năm tù, về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt cả hai tội bị cáo phải chấp hành 04 (bốn) năm tù, thời hạn tính từ ngày 14/10/2023 (bị cáo được trừ đi thời hạn tạm giữ 02 (hai) ngày tính từ (23 giờ 52 phút ngày 28/8/2023 đến 19 giờ 00 phút ngày 30/8/2023).
- Xử phạt bị cáo Hoàng Phi H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt cả hai tội bị cáo phải chấp hành 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 02/10/2023.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 Phong bì niêm phong tang vật ma túy bên trong có 0,149 gam Heroin và 01 vỏ bao gói cũ. Mặt trước ghi chữ “Tang vật nghi ma túy thu giữ quả tang của Triệu Văn T ngày 28/8/2023” có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C1 và Hoàng Mạnh H2 và 02 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh L, tại phần giáp lai mới, mặt sau được niêm phong bởi chữ ký cùng tên của những người tham gia cùng niêm phong gồm: Nguyễn Đức L1, La Văn H3, Nông Đức T2, Nguyễn Văn H4, Triệu Văn T và 05 (năm) dấu tròn đỏ của Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; 01 lọ nước cất bị vỡ phần đầu; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 01 bật lửa mà đỏ; 03 mảnh giấy bạc hình chữ nhật;
- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, số IMEI: 358877980593759 máy cũ đã qua sử dụng của của bị cáo Triệu Văn T; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu xanh, số IMEI: 864821067436893, máy cũ đã qua sử dụng của Hoàng Phi H.
- Trả cho bị cáo Triệu Văn T 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi màu xanh ngọc, số IMEI: 867966065346722/78, máy cũ đã qua sử dụng; trả cho chị Hoàng Huệ M1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 123T1-215.05 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 12001444 mang tên Nông Thị C; trả cho bị cáo Hoàng Phi H 01 căn cước công dân số [...].
- Về án phí: Buộc các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H, mỗi bị cáo bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Triệu Văn T, Hoàng Phi H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Huệ M1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
(Chi tiết toàn bộ số vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn ngày 28/11/2023).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bàn Văn Tiển |
Bản án số 73/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 73/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn T và Hoàng Phi H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ TP chất ma túy
