|
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 50/2025/HS-ST Ngày 29-5-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN- THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Long và bà Đàm Thị Thơ.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2025/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Văn T - Sinh 19/8/1989 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H (Đã chết) và bà Đỗ Thị T1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt hai tội là 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2018, án phí HSST là 200.000đ (Bản án số 54/2018/HSST). Ngày 31/01/2019, T nộp tiền án phí. Ngày 28/4/2020, T chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 23/12/2024, Đỗ Văn T điều khiển xe ô tô BKS: 36C-487.63 từ khu công nghiệp T đi lấy cát tại xã T, huyện T. T điều khiển xe đi theo Quốc lộ D qua đường N -S theo hướng huyện T đi huyện T. Khi đi đến khu vực ngã tư thuộc thôn F, xã V, huyện T, T đang nói chuyện điện thoại với ông Nguyễn Đức H1, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã X, huyện T qua ứng dụng zalo (người mua cát ở xã X, huyện T) thì quan sát phía trước có một xe bán tải cùng chiều đi chậm, T đánh lái sang phải tránh xe bán tải nên đâm va với mặt ngoài bên trái tay nâng xe mô tô, BKS: 36B4-350.68 do anh Nguyễn Xuân N điều khiển đang đi cùng chiều trên phần đường bên phải trong cùng. Hậu quả, anh N bị thương ở chân phải, phải đi điều trị tại bệnh viện V, thành phố Hà Nội.
Hiện trường nơi xảy ra vụ tại nạn giao thông là đoạn đường trên đường Q, tại Km 17+400, đường Q, thuộc thôn F, xã V, huyện T. Mặt đường rộng 10,6m, rải nhựa tương đối bằng phẳng, có vạch sơn phân chia làn đường rõ ràng, vạch sơn giữa mặt đường là nét liền. Tại khu vực xảy ra tai nạn có vạch giảm tốc, vạch kẻ phần đường giành cho người đi bộ và hệ thống biển báo hiệu đường bộ. Lấy cột mốc số H4/17 bên lề đường phía Tây Nam trên đường QL47B làm mốc, ký hiệu A. Lấy mép đường nhựa phía Đông Bắc trên đường QL47B làm chuẩn, ký hiệu B.
Số 01: Vết tỳ trượt không liên tục dài 92cm nằm trên mặt đường QL47B. Vết có chiều theo chiều đi từ xã T đi xã H (Đ - T). Từ điểm đầu vết vào B là 50cm và đến điểm giao cắt ngã tư là 13,8m. Điểm cuối vết vào B là 54cm và cách điểm đầu vết số (2) là 40cm.
Số 02: Vết cày trượt không liên tục dài 8,8m nằm trên mặt đường QL47B. Vết có chiều theo chiều đi từ xã T đi xã H (Đ - T). Từ điểm đầu vết vào B là 15cm. Điểm cuối vết nằm ngay vị trí giá để chân phải xe mô tô BKS: 350.68.
Số 3: Xe mô tô BKS: 36B4-350.68 bị móp méo, biến dạng nằm nghiêng bên phải ở lề đường đất hướng Đông Bắc của đường QL47B. Đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Nam. Từ trục bánh trước xe vào B là 70cm và cách trục bánh sau cùng hàng lốp ngoài cùng bên phải của số 5 là 31,85m.
Số 4: Vết máu không rõ hình thù nằm ở lề đường đất hướng Đông Bắc của đường QL47B, kích thước (60x35) cm. Từ tâm vết máu vào B là 01m và cách trục bánh sau xe mô tô số 3 là 55cm.
Số 5: Xe ô tô BKS: 36C-487.63 nằm trên mặt đường quốc lộ 47B và lề đường đất hướng Đông Bắc. Đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Nam. Hàng lốp cuối ngoài cùng bên phải cách B là 1,3m, hàng lốp đầu bên phải cách B là 1,7m; hàng lốp đầu tiên bên trái cách A là 44,3m. Biển báo chú ý quan sát cách vị trí số 1 là 41,3m; biển báo giao nhau với đường không ưu tiên cách vị trí số 1 là 84,2m.
Tại biên bản khám dấu vết trên xe ô tô BKS: 36C-487.63 ghi nhận: Mặt ngoài bên phải ba-đờ-sốc trước có vết cà trượt làm mòn sơn màu xám, kích thước 8cm x1cm, vết có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, bề mặt vết bám dính lớp màng màu ghi, vết cao cách mặt đất 75,5cm-78,5cm. Mặt ngoài bên phải ba đờ sốc trước có vết cà trượt làm mòn sơn màu xám, kích thước 14cm x 0,5cm, vết có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, bề mặt vết bám dính chất màu nâu (dạng han gỉ), chất màu ghi (dạng sơn), vết cao cách mặt đất 61cm-72cm. Mặt trước bên phải ba-đờ-sốc trước có vết cà trượt làm mòn kim loại, kích thước 5cm x0,2cm, vết có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, từ dưới lên trên và từ trên xuống dưới, vết cao cách mặt đất 61cm-66cm. Mặt trước phần trước chắn bùn bánh trước bên phải, mặt và má ngoài, má trong lốp trước bên phải; má ngoài hàng lốp thứ hai bên phải, má ngoài lốp ngoài hàng lốp thứ 3 và 4 bên phải (tính từ trước về sau), có vết cà trượt, tỳ trượt làm sạch bụi đất, mòn cao su, vết có chiều từ trước về sau, từ ngoài vào tâm và từ tâm ra ngoài, bề mặt vết bám dính chất màu đen (dạng dầu mỡ).
Biên bản khám dấu vết trên xe mô tô BKS: 3684-350.68 ghi nhận: Mặt ngoài bên trái tay nâng có vết cà trượt làm mòn sơn, kích thước 0,5cm x 3cm, vết có chiều từ sau về trước, chếch từ dưới lên trên, hiện tại vết cao cách mặt đất 82cm-82,4cm. Đầu mút ngoài tay nắm bên trái có vết cà trượt làm mòn xước sơn màu đen và kim loại, kích thước 2cm x 0,4cm, vết có chiều từ phải sang trái, bề mặt vết bám dính chất màu nâu (dạng han gỉ), hiện tại vết cao cách mặt đất 98cm-98,5cm. Yên xe bung bật khỏi xe, Bên trái xe có vết cà trượt, tỳ trượt làm nứt vỡ nhựa, món xước, nứt vỡ, cong vênh kim loại, vết có chiều từ sau về trước, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, từ ngoài vào tâm (tại vành), bề mặt vết bám dính chất màu đen (dạng cao su). Vết làm biến dạng hoàn toàn phần sau xe, cong vênh tay lái và cổ phoóc. Bên phải xe có vết cà trượt làm mòn xước nhựa và kim loại, vết có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, bề mặt vết bám dính chất màu trắng đục, bụi đất.
Ngày 02/01/2025, Phòng K Công an tỉnh T có Bản kết luận giám định số 248/KL-KTHS, kết luận:
- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt ngoài bên phải ba-đờ sốc trước xe ôtô BKS: 36C - 487.63 với mặt ngoài bên trái tay nâng xe môtô BKS: 36B4-350.68.
- Tại thời điểm va chạm, xe ôtô BKS: 36C487.63 chuyển động cùng chiều, ở phía sau bên trái và có vận tốc lớn hơn so với chuyển động của xe môtô 36B4-350.68
- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cày trượt (2), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc chiều đường xã T đi xã H.
- Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện khi xảy ra va chạm.
Tại Bản kết luận giám định số 275/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy chất ma túy. loại Methamphetamine, MDA, MDMA, Ketamine, Amphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Đỗ Văn T gửi đến giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 317/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu máu của Đỗ Văn T không có Ethanol (cồn).
Tại Bản kết luận giám định số 288/KL-KTHS ngày 20/01/2025, của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Các kết quả chính: Anh Nguyễn Xuân N bị chấn thương chân phải, đã cắt cụt 1/3 dưới đùi phải. Hiện tại cụt 1/3 dưới đùi phải.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với cắt cụt 1/3 dưới đùi phải của anh Nguyễn Xuân N tại thời điểm giảm định là 65%.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 153/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2025 kết luận: 01 xe mô tô BKS 36B4.350.68 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị 8.500.000đ.
Về thu giữ, xử lý đồ vật, vật chứng:
Đối với 01 xe ô tô BKS: 36C-487.63 nhãn hiệu CNHTC, số máy D103850220407007787, số khung LZZIEXSB8NA017790; 01 đăng ký xe ô tô BKS: 36C-487.63 nhãn hiệu CNHTC, số máy D103850220407007787, số khung LZZ1EXSB8NA017790; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DB2175503 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho ông Trịnh Văn Q là chủ sở hữu.
Đối với 01 xe mô tô BKS: 36B4-350.68, nhãn hiệu Honda, màu nâu vàng, số máy JC54E2077602, số khung: RLHJC5389EY053699 bị hư hỏng hoàn toàn sau tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại cho bị hại.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C, số [...] của Đỗ Văn T, cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ chuyển kèm hồ sơ vụ án chờ xử lý theo quy định.
Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 300.000.000đ cho bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đỗ Văn T và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Bản cáo trạng số 47/CT-VKSTS ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Đỗ Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, trả lại bằng lái xe cho bị cáo.
Về dân sự: Bị hại đã nhận số tiền do bị cáo bồi thường: 300.000.000đ và không có yêu cầu bì thường gì thêm nên không xét.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến gì tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 23 tháng 12 năm 2024, Đỗ Văn T, có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô BKS: 36C-487.63 lưu thông trên quốc lộ D, đường N - S. Khi đi đến khu vực ngã tư thuộc thôn F, xã V, huyện T, do sử dụng điện thoại khi điều khiển phương tiện giao thông, không chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ, vượt xe không đảm bảo an toàn nên ba đờ sốc trước bên phải xe ô tô do T điều khiển đâm va vào mặt ngoài bên trái tay nâng xe môtô BKS: 36B4.350.68 do anh Nguyễn Xuân N điều khiển, đang đi trên phần đường bên phải cùng chiều với Đỗ Văn T. Hậu quả, anh Nguyễn Xuân N bị thương, phải cắt cụt 1/3 dưới đùi phải, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 65%.
Hành vi của Đỗ Văn T vi phạm vào khoản 23, Điều 8; khoản 2, 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008 và phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố hành vi của bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của Đỗ Văn T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thương tích và hư hỏng tài sản của anh T, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Do đó, cần xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, được xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị kết án về tội “Hủy hoại tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
HĐXX căn cứ vào tính chất của vụ án, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân như đã đánh giá ở trên để lên mức hình phạt phù hợp cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có khả năng cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5]. Về dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho anh Nguyễn Xuân N số tiền 300.000.000đ. Anh N không yêu cầu bồi thường thêm nên HĐXX không xem xét.
[6]. Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả phương tiện giao thông, giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 23/11/2022 đang lưu trong hồ sơ vụ án nên trả lại cho Đỗ Văn T.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Đỗ Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bắt giam thi hành án.
[2]. Áp dụng: Khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, 331,333BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Trả cho Đỗ Văn T 01 giấy phép lái xe hạng C, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 23/11/2022.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 50/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án Vi phạm quy định về gia thông đường bộ Đỗ Văn Tâm
