Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HS-ST

Ngày: 20/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Khả

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thúy, ông Lê Văn Bắc.

Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Quản - Kiểm sát viên.

Ngày 20/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 tại hai điểm cầu, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác ở điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án thành phố T, Đỗ Thị Ngân T ở điểm cầu tại trại tạm giam Công an tỉnh B, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số50/2023/QĐXXST-HS ngày 05tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Đỗ Thị Ngân T, sinh năm 2000; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;

Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã B, huyện P, thành phố Hà Nội;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên bố: Đỗ Văn Đ, sinh năm 1973; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Chồng, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2023 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo ông Hoàng Thế S, luật sư công ty luật TNHH Hoàng Thế Đoàn luật sư thành phố H (có mặt)

2

Địa chỉ: Tầng A Tòa nhà A Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

T quen biết với Nguyễn Văn H, sinh năm 1998, trú tại thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang từ đầu tháng 7 năm 2023, T đến phòng trọ của H tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh để chơi và ở lại từ ngày 12/7/2023. Khoảng 12 giờ ngày 17/7/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá, ma túy ngựa nên T đã đi đến khu vực bến xe buýt T tìm mua ma túy để bản thân sử dụng. Tại đây, T gặp 01 người phụ nữ không quen biết, T hỏi mua của người này 1.500.000 đồng tiền ma túy “đá” và ma túy “ngựa”, người này đồng ý. T đưa cho người này 1.500.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa lại cho T 01 túi ni lông chứa ma túy đá, 01 túi ni lông chứa 22 viên ma túy ngựa và 01 cóng thủy tinh. Sau đó, Thủy cầm số ma túy vừa mua được đi về phòng trọ, trên đường đi về T có mua chai nước vỏ bằng nhựa, một ống hút, một bật lửa ga màu đỏ (T không nhớ vị trí quán nước đó) để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Về đến phòng trọ, T lấy 1 phần ma túy đá trong túi ma túy đá nêu trên ra để sử dụng hết. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi T đang ở phòng trọ của H thì có lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, ngày 21/12/2022, phòng K Công an tỉnh B đã tiến hành giám định và ban hành kết luận giám định số Kết luận giám định số 1500/KL-KTHS, ngày 19/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • - “Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 1,6758 gam. Là ma túy, loại ma túy Methamphetamine”
  • - 22 viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 2,0797 gam; Là ma túy, loại ma túy Methamphetamine”

Tổng khối lượng ma túy là 3,7555 gam Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số:203/ CT–VKS-TS ngày 10/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố Đỗ Thị Ngân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.

3

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra và truy tố vụ án, bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội, không bị bức cung, nhục hình buộc để khai nhận hành vi phạm tội và cũng không khiếu nại gì về hành vi hay quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra và truy tố vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội về hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm của Cáo trạng đã truy tố bị cáo Đỗ Thị Ngân T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Ngân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47, Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Ngân T từ 36 đến 42 tháng tù. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật còn lại sau giám định số 1500/KL-KTHS, ngày 19/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B và 01 chai nhựa, đầu chai nhựa có gắn ống hút màu vàng, thân chai nhựa có gắn ống hút màu tím, đầu ống hút màu tím có gắn 01 chiếc cóng thủy tinh, 01 bật lửa ga màu đỏ.

Luật sư bào chữa cho bị cáo T trình bày bài bào chữa: Về tội danh và khung hình phạt không có ý kiến gì, tuy nhiên quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là người chịu khó làm ăn, là trụ cột trong gia đình, bố mẹ thì ốm yếu, do bị lôi kéo nên bị cáo đã phạm tội, đề nghị HĐXX cho bị cáo mức án nhẹ nhất và miễn phạt tiền cho bị cáo.

Phần tranh luận bị cáo đồng ý với bài bào chữa của luật sư và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và thừa nhận việc truy tố và xét xử là đúng.

Lời nói sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn phạt bổ sung cho bị cáo vì bị cáo không có tài sản, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại

4

về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ ngày 17/7/2023, tại phòng trọ của Hkhu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường Đ, thành phố T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Đỗ Thị Ngân T tàng trữ trái phép 02 túi nilong chưa tổng số 3,7555 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy không chỉ gây tác hại đến sức khỏe, nhân cách con người, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và ý thức được tác hại của ma túy, song với ý thức tư lợi, coi thường pháp luật bị cáo vẫn lao vào con đường sử dụng ma túy. Do vậy cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo

  • + Về tình tiết tăng nặng: Không.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên cũng cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Tại phiên tòa, bị cáo trình bày bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản. Vì vậy cần xem xét miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

5

[7] Về vật chứng: Số mẫu vật còn lại sau giám định gồm 01 phong bì thư đựng mẫu vật còn lại sau giám định số 1500/KL-KTHS, ngày 19/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B. 01 chai nhựa, đầu chai nhựa có gắn ống hút màu vàng, thân chai nhựa có gắn ống hút màu tím, đầu ống hút màu tím có gắn có gắn 01 chiếc cóng thủy tinh; 01 bật lửa ga màu đỏ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiệu hủy.

[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T ngày 17/7/2023 nhà trọ của H, Công an thành phố T đã ra quyết định xử lý hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

Đối với người phụ nữ không quen biết đã bán ma túy cho T ngày 17/7/2023 tại bến xe buýt thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. T khai không biết người này là ai, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Ngân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Xử phạt: Đỗ Thị Ngân T 38 (ba tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 17/7/2023.

    Tạm giam Đỗ Thị Ngân T 45 ngày kể từ ngày 20/12/2023 để đảm bảo thi hành án.

  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo Đỗ Thị Ngân T.
  4. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật còn lại sau giám định số 1500/KL-KTHS, ngày 19/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B. 01 chai nhựa, đầu chai nhựa có gắn ống hút màu vàng, thân chai nhựa có gắn ống hút màu tím, đầu ống hút màu tím có gắn có gắn 01 chiếc cóng thủy tinh. 01 bật lửa ga màu đỏ.
  5. Về án phí: Bị cáo Đỗ Thị Ngân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Nguyễn Sỹ Khả

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 50/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: THủy TTMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger