Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 36/2025/HS-PT

Ngày: 27-3 -2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thanh
Ông Hoàng Rung K' Nhơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 255/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Chắng Nhịt T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 279/2024/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Chắng Nhịt T, sinh năm: 1985 tại: Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Tổ C, Ấp E, xã X, huyện C, Tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: G N, Phường A, Thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Hoa (Hán); giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chắng A và bà: Chìu Lộc M; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 350/2007/HSST ngày 20-11-2007, bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 (B) năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đoàn Minh Thiên Ý – Công ty L thuộc Đoàn luật sư Thành Phố H. Có mặt.

Trong vụ án còn có bị hại nhưng không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chắng Nhịt Tắc là lái xe ô tô biển số 60F - 015.71 qua ứng dụng G1. Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 19-5-2024, chị Nguyễn Thị Bích T1 đặt xe ô tô qua ứng dụng Grab của T để đón chị T1 đi từ đường P, Phường B, thành phố Đ về khách sạn C, địa chỉ: A P, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khi lên xe chị T1 ngồi ở hàng ghế thứ hai phía sau lưng T, chị T1 để giỏ xách màu nâu có chữ “Charles& Keith” bên cạnh vị trí chị T1 ngồi, bên trong giỏ xách có giấy tờ tuỳ thân của chị T1, số tiền 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng) và 5.000 (Năm ngàn) đô la Mỹ. Đến khoảng 16 giờ 25 phút cùng ngày, khi đến khách sạn C chị T1 xuống xe và để quên giỏ xách trên hàng ghế thứ hai của xe ô tô biển số 60F - 015.71.

Sau đó, Chắng Nhịt T tiếp tục điều khiển xe ô tô biển số 60F - 015.71 đi đón khách. Khi T dừng xe lại ở khu vực đường N, Phường A, thành phố Đ để mở cửa cho khách lên xe thì phát hiện giỏ xách của chị T1 để quên ở hàng ghế sau. T dùng tay lấy giỏ xách rồi để ở khu vực kính chắn gió phía trước bên phải đầu xe ô tô, và thấy giỏ xách không kéo khoá, bên trong có nhiều tờ tiền mệnh giá nước ngoài và tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng). Tắc không thông báo với chị T1 mà tiếp tục điều khiển xe ô tô đưa đón khách.

Sau khi chị T1 phát hiện để quên giỏ xách thì đã gọi điện thoại đến Tổ N để nhờ liên lạc với lái xe ô tô để hỏi nhận lại giỏ xách. Đến khoảng 17 giờ ngày 19-5-2024, T đang trả khách ở khu vực huyện L, Lâm Đồng thì nhận được điện thoại của tổng đài G1 nhưng T không bắt máy mà tiếp tục điều khiển xe ô tô biển số 60F - 015.71 đi về đến đường L, Phường B, Thành phố Đ. Lúc này, T mở giỏ xách của chị T1 ra kiểm tra và thấy bên trong có nhiều tờ tiền nước ngoài mệnh giá 100 USD (Đô la Mỹ) và nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm ngàn Việt Nam Đ) nhưng T không đếm cụ thể. Tắc mang toàn bộ số tiền này đem cất giấu ở phía dưới nệm giường ngủ ở phòng trọ 204; địa chỉ: G N, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau đó, tổng đài G tiếp tục gọi cho T thông báo chị T1 để quên giỏ xách, T xác nhận có giỏ xách trên xe và T đi đến khách sạn C tìm gặp chị T1. Lúc này, T đưa giỏ xách bên trong có giấy tờ tuỳ thân của chị T1, khi chị T1 nói bị mất toàn bộ số tiền trong giỏ xách thì T nói không biết gì về số tiền này. Chị T1 đề nghị T đến trụ sở Công an để làm việc.

Qua làm việc Cơ quan Công an yêu cầu Tắc trả lại số tiền trên nhưng T không trả và trình bày không biết về số tiền trong giỏ xách. Tuy nhiên, Cơ quan Công an tiến hành coi dữ liệu camera hành trình trên xe ô tô biển số 60F - 015.71 và phát hiện được diễn biến sự việc. Lúc này, T mới thừa nhận hành vi vi phạm và khai nhận đang cất giấu số tiền vừa lấy được của chị T1 tại Phòng trọ số 204; địa chỉ: G N, Phường A, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng (BL 27-34, 60-73, 133-149).

Tang vật thu giữ:

  • - 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm ngàn Việt Nam đồng)
  • - 5.000 (Năm ngàn) đô la Mỹ (USD) gồm 50 (Năm mươi) tờ tiền đô la Mỹ, mỗi tờ mệnh giá 100 USD.
  • - 01 (Một) giỏ xách bằng da màu nâu, trên giỏ có chữ “Charles& Keith”, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng chất lượng.
  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro, màu xám, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng chất lượng máy
  • - 01 ((Một) thẻ nhớ camera hành trình màu đen - vàng, dung lượng 32GB, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng chất lượng máy (BL 38,46,53, 55).

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm: 1988, nơi thường trú: Thôn P, H, H, thành phố Đà Nẵng bị chiếm đoạt số tiền 25.500.000 đồng (hai mươi lăm triệu năm trăm ngàn Việt Nam đồng) và 5.000 (năm ngàn) đô la Mỹ, chị T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì (BL 63)

Theo bản kết luận định giá tài sản số 107/KL-HĐĐGTS ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận:

- 50 (Năm mươi) tờ tiền nước ngoài (Đô la Mỹ), mỗi tờ mệnh giá 100 USD (đô la Mỹ), tại thời điểm ngày 19/5/2024 có tỷ giá mua vào là 126.100.000 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu một trăm ngàn đồng)

Bản cáo trạng số: số 324/CT-VKSÐL-LĐ ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Chắng Nhịt T về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo khoản 1 Điều 176 của Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 279/2024/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2024 đã Tuyên bố bị cáo Chắng N Tắc phạm về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 176; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Chắng Nhịt T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20-11-2024 bị cáo Chắng Nhịt T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Chắng Nhịt T giữ nguyên, không thay đổi bổ sung nội dung gì khác so với đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và tuyên phạt bị cáo mức án 12 tháng tù là có căn cứ. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận: bị cáo phạm tội chưa gây hậu quả; tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc làm sáng tỏ vụ án; đã khắc phục toàn bộ thiệt hại; Cha bị cáo đang bị mắc bệnh hiểm nghèo, bị cáo đang có bệnh án Viêm gan, dạ dày nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng bổ sung cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại các điểm b, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, đủ điều kiện để hưởng án treo nên đề nghị xem xét toàn diện diễn biến sự việc, nguyên nhân, điều kiện, bối cảnh phạm tội để áp dụng dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài cộng đồng để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.

[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[3] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai bị hại; kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo là lái xe ô tô biển số 60F - 015.71 qua ứng dụng G1. Ngày 19-5-2024, sau khi phát hiện khách để quên giỏ xách trên xe, T lấy giỏ xách mang về không thông báo với khách để trả lại giỏ xách mà tiếp mà mang về nhà kiểm tra phát hiện bên trong có nhiều tờ tiền nước ngoài mệnh giá 100 USD (Đô la Mỹ) và nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm ngàn Việt Nam Đ) nhưng T không đếm cụ thể và mang toàn bộ số tiền này đem cất giấu ở phía dưới nệm giường ngủ ở phòng trọ 204; địa chỉ: G N, Phường A, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng. Sau đó, tổng đài G gọi cho T thông báo khách để quên giỏ xách, T xác nhận có giỏ xách trên xe và mang giỏ xách bên trong có giấy tờ tuỳ thân trả cho khách nhưng không chịu trả tiền. Qua làm việc Cơ quan Công an yêu cầu Tắc trả lại số tiền trên nhưng T không trả và trình bày không biết về số tiền trong giỏ xách. Tuy nhiên, Cơ quan Công an tiến hành coi dữ liệu camera hành trình trên xe ô tô biển số 60F - 015.71 và phát hiện được diễn biến sự việc, thì T mới thừa nhận hành vi đang cất giấu số tiền vừa lấy được của khách cất giấu tại Phòng trọ số 204; địa chỉ: G N, Phường A, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng mục đích nhằm chiếm đoạt số tiền trên.

Xét thấy, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo hộ, nhưng sau khi chiếm giữ tài sản của người khác bỏ quên, vì lòng tham, tư lợi cá nhân mà bị cáo đã cố ý chiếm giữ bất hợp pháp tài sản của bị hại qua điều tra xác định được với tổng giá trị 151.600.000 đồng mặc dù bị hại, người có trách nhiệm đã có yêu cầu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” khoản 1 Điều 176 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội danh.

[4] Về hình phạt và kháng cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác; gây mất niềm tin của khách du lịch đối với hoạt động đưa đón khách tại thành phố Đ (Thành phố du lịch). Thời điểm xét xử, khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã đánh giá bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt để áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đầy đủ và đúng quy định. Sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo hình phạt 12 tháng tù là trong khung hình phạt, đủ sức răn đe và phòng ngừa.

Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo và phần tranh luận của phiên tòa phúc thẩm, luật sư bào chữa của bị cáo có ý kiến tranh luận đề nghị áp dụng bổ sung cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ mới. Qua xem xét ý kiến tranh luận này của luật sư thì thấy rằng tài sản chiếm giữ do cơ quan Công an sử dụng biện pháp nghiệp vụ phát giác, sau đó thu hồi để trả cho chủ sở hữu; khi cơ quan Công an mời lên làm việc, ban đầu bị cáo chối bỏ hành vi, chỉ khi trích xuất dữ liệu điện tử bị cáo mới thừa nhận và giao nộp tài sản bị chiếm giữ, vì vậy Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại các điểm b, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ. Đối với các tài liệu, chứng cứ thể hiện cha bị cáo cũng như bị cáo đang điều trị bệnh thì đây không được xem là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, có thể thấy bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ mới, không đưa ra được căn cứ nào khác làm giảm nhẹ thêm trách nhiệm hình sự của bị cáo so với giai đoạn sơ thẩm. Trong khi đó, xét toàn bộ diễn biến hành vi của bị cáo thì thấy bị cáo đã 03 lần từ chối cơ hội trả lại tài sản chiếm giữ trái phép cho chủ sở hữu cho thấy phần nào quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Mặt khác thì tài sản bị chiếm giữ trái phép trong giá trị cao so với khung hình phạt bị cáo phạm phải; nhân thân bị cáo lại từng bị xử lý trách nhiệm hình sự về hành vi chiếm đoạt. Vì vậy, việc cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo ngoài cộng đồng sẽ không nghiêm, tạo dư luận xấu nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; ý kiến bào chữa của luật sư; thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phúc thẩm, bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chắng Nhịt T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Chắng Nhịt T phạm tội: “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 176; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Chắng Nhịt T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Chắng Nhịt T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - TAND thành phố Đà Lạt (02);
  • - VKSND thành phố Đà Lạt (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Công an tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Bị cáo (01);
  • - Hồ sơ THAHS (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01)
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm (tội chiếm giữ trái phép tài sản)

  • Số bản án: 36/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm (Tội Chiếm giữ trái phép tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger