Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2023/HS-ST

Ngày: 21/12/2023.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Giang.

Thư ký phiên tòa: bà Lục Thanh Hương- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hùng Vĩ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Vũ C; tên gọi khác: không; sinh ngày 15/5/1990 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn B, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Vũ Đ và bà Bùi Thị C1; có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: không có;

    Nhân thân: ngày 09/01/2012, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 06 năm tù, về tội “Cướp tài sản”;

    Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 28/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M; có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Phạm Ngọc T; tên gọi khác: không; sinh ngày 09/5/1993 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: khu H, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Diệp Thị C2; có vợ chưa có con; tiền án, tiền sự: không có;

    Nhân thân: ngày 05/4/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 24 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

    Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 28/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M; có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Văn N; tên gọi khác: không; sinh ngày 24/5/1996 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu L, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Trần Thị N2; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: không có;

    Nhân thân: ngày 27/11/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 06 năm tù, về tội “Cướp tài sản”; ngày 30/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;

    Bị cáo bị bắt ngày 18/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M; có mặt tại phiên tòa.

*/ Bị hại:

  • Lê Thị S, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn D, xã H, thành phố M, Quảng Ninh, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Trần Hưng T1, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn D, xã Q, thành phố M, Quảng Ninh, có đơn xin xét xử vắng mặt.

*/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Vũ Đức T2, sinh năm 1990; địa chỉ: khu E, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xét xử vắng mặt.
  • Đinh Hữu H, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn E, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Lê Văn T3, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Lưu Thế D1, sinh năm 1976; địa chỉ: khu T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Nguyễn Thị M, sinh năm 1975; địa chỉ: khu P, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Trần Kim H1, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1967; địa chỉ: thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xét xử vắng mặt.

*/ Người làm chứng: Bùi Văn D2, Trần Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền ăn tiêu, nên Trần Vũ C rủ Phạm Ngọc T và Nguyễn Văn N chế tạo vam phá khóa để đi trộm cắp xe mô tô, T và N đồng ý. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 7/2023 đến ngày 25/7/2023, C, T và N đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thành phố M, rồi đem bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:

* Vụ thứ nhất: khoảng 03 giờ ngày 10/7/2023, Phạm Ngọc T đến thành phố M chơi, rồi nhờ anh Bùi Văn D2 là bạn chở về nhà ở huyện H. Khi đến khu vực thuộc khu B, phường H, thành phố M, T phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-trắng, biển số 37E1-182.08 của anh Trần Hưng T1 (sinh năm 1994, trú tại: thôn D, xã Q, thành phố M) đang để ở lề đường, không có người trông coi, nên T1 bảo anh D2 quay về, còn để T1 ở lại giải quyết công việc rồi về sau. Sau đó, T1 đi đến vị trí chiếc xe mô tô, thấy chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, nên mở khóa nổ máy rồi điều khiển xe đi về huyện H. Khi đến khu vực xã Q, huyện H, T1 gặp C và nói là xe vừa trộm cắp được, C bảo đem bán lấy tiền chia nhau, T1 đồng ý rồi và cùng với C đem xe mô tô trộm cắp được bán cho anh Đinh Hữu H lấy 3.000.000 đồng rồi chia cho C 1.000.000 đồng. Đến ngày 06/10/2023, anh Đinh Hữu H đã giao nộp chiếc xe mô tô trên cho Công an.

* Vụ thứ hai: khoảng 13 giờ ngày 25/7/2023, Trần Vũ C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupite MX, màu đen, biển số 14T2-2428 chở Phạm Ngọc T và Nguyễn Văn N cầm theo 02 vam phá khóa xe mô tô đi đến Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh M1 ở số F, đường H, phường T, thành phố M, phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ, biển số 14H8-7657 của chị Lê Thị S (sinh năm 1992, trú tại: thôn D, xã H, thành phố M - là nhân viên của Ngân hàng) đang dựng ở vỉa hè phía trước cửa Ngân hàng, không có người trông coi. Lúc này, C đỗ xe lại, thì T đi đến vị trí chiếc xe và dùng vam phá khóa hình chữ “L” mang theo để phá khóa xe. Khi T phá khóa xong, N đi đến ngồi lên xe, nổ máy rồi điều khiển xe mô tô lấy được chở T, còn C điều khiển xe mô tô biển số 14T2-2428 đi đến khu vực cầu P thuộc thôn E, xã Q, thành phố M, cả ba dừng xe lại. N lấy 01 chiếc cờ lê trong cốp xe của C tháo biển số xe lấy được ra cho vào trong cốp thì thấy có giấy đăng ký xe mang tên Trần Xuân S1, địa chỉ: khu B, phường H, thành phố M ở trong cốp xe, rồi tiếp tục điều khiển xe đem về nhà của N cất giấu. Đến khoảng 17 giờ sáng ngày 26/7/2023, C và T đem xe mô tô trộm cắp được đến khu vực thôn E, xã Q, thành phố M bán cho anh Vũ Đức T2 lấy 6.000.000 đồng và đưa giấy đăng ký của xe cho anh T2. Sau đó, T chia cho C và N mỗi người 2.000.000 đồng. Đến ngày 27/7/2023, anh Vũ Đức T2 đã giao nộp chiếc xe mô tô trên cùng giấy đăng ký xe cho Công an.

Căn cứ vào tài liệu điều tra, ngày 28/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M ra lệnh bắt, khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Trần Vũ C và Phạm Ngọc T, thu giữ tại nơi ở của C ở thôn B, xã Q, huyện H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter MX, màu đen, biển số 51F9-4497; 05 chiếc biển số 14T2-0966, 14P7-7213, 14P1-9096, 14T2-0342 và 14B1-012.58; 01 chiếc áo khoác dài tay ghi chữ VL, 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu xanh rêu và 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu vàng nâu in chữ VL. Ngoài ra, Trần Vũ C còn giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG K50S, màu xanh, gắn sim số 0357.581.880 và sim số 0326.138.150; Phạm Ngọc T giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9S, màu trắng, gắn sim số 0356.244.595 và sim số 0792.201.731. Ngày 18/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M khởi tố, bắt tạm giam Nguyễn Văn N. Trước đó, tiến hành khám nghiệm hiện trường là nơi ở của N tại khu L, thị trấn Q, huyện H (nơi cất giấu xe trộm cắp của chị Lê Thị S) thu giữ 01 chiếc cờ lê, bằng kim loại, màu bạc, một đầu khắc chữ ATC, trên thân khắc số 14 và 17; 01 chiếc cờ lê, bằng kim loại đã rỉ sét; 01 vật hình chữ T, bằng kim loại, thanh ngang đầu chữ T có bọc lớp cao su màu đen.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 580/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố M, kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ-đen-bạc, biển số 14H8-7657, trị giá 10.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 846/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố M, kết luận: xe máy mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-trắng, số khung 10DY261610, số máy 55P1-261637, không gắn biển số, trị giá 9.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 1384/KL-KTHS, ngày 22/9/2023, của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: các biển số 14P1-9069, 14T2-0342, 14B1-012.58, 14T2-0966 và 14P7-7213, có các đặc điểm cơ bản khác với các đặc điểm cơ bản của hình dấu Công an hiệu đóng dập trên biển số mẫu so sánh.

Bản Cáo trạng số 123/CT- VKSMC ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Trần Vũ C, Phạm Ngọc T và Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo Trần Vũ C, Phạm Ngọc T, Nguyễn Văn N, đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã nêu. C và T còn khai đã thống nhất với nhau, nếu C hoặc T trộm cắp được xe mô tô sẽ cùng nhau đem bán lấy tiền chia nhau. Đối với các biển số 14P1-9069; 14T2-0342; 14B1-01258; 14T2-0966 và 14P7-7213 thu giữ tại nhà Trần Vũ C, C khai là mua lại của người thu mua sắt vụn về để gắn vào xe máy sử dụng dần, tránh bị phát hiện. Đối với chiếc vam phá khóa của T và biển số 14T2-2428 gắn trên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter MX của C, T và N khai sau khi lấy được xe của chị S, T đã vứt vam phá khóa đi, còn N tháo biển số trên vứt đi và lấy biển số 51F9-4497 gắn vào xe Yamaha Jupiter MX của C, nên đã bị mất không thu hồi được.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt bị hại Lê Thị S có yêu cầu xin lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ-đen-bạc, biển số 14H8-7657 để là m phương tiện đi lại và đề nghị xử lý các bị cáo theo pháp luật.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại Trần Hưng T1 có quan điểm đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh - trắng và không có yêu cầu về bồi thường, đề nghị xét xử bị cáo theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Đức T2 có quan điểm trong đơn xin xét xử vắng mặt như sau: ngày 26/7/2023 anh mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ-đen-bạc, biển số 14H8-7657 do C và T1 mang đến. Anh không biết nguồn gốc chiếc xe là do các bị cáo trộm cắp mà có nên anh đã đưa cho C và T1 6.000.000đ, nay anh yêu cầu các bị cáo phải trả lại cho anh số tiền 6.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Hữu H có lời khai trong quá trình điều tra cũng như tại đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện nội dung: ngày 10/7/2023 anh mua xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh - trắng, biển số 37E1-182.08 do C và T1 mang đến. Anh không biết nguồn gốc chiếc xe là do các bị cáo trộm cắp mà có nên anh đã đưa cho C và T1 3.000.000đ. Anh đã giao nộp xe cho cơ quan điều tra, nay anh không yêu cầu các bị cáo phải trả lại cho anh số tiền 3.000.000 đồng. Quá trình sử dụng anh đã làm rơi mất biển số xe 37E1-182.08, nên không thu hồi được.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đ1 vắng mặt có lời khai như sau: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ-đen-bạc, biển số 14H8-7657, đăng ký xe mang tên Trần Xuân S1, là xe do chồng bà (ông Lê Văn T4) mua năm 2012. Bà Đ1 đã cho con gái là Lê Thị S sử dụng nhưng chưa sang tên. Chiếc xe hiện nay bị thu giữ nên bà Đ1 đề nghị xem xét trả lại chiếc xe mô tô trên để chị Lê Thị S được tiếp tục sử dụng.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Lê Văn T3, Lưu Thế D1, Nguyễn Thị M và Trần Kim H1 vắng mặt nhưng lời khai trong hồ sơ đều có nội dung như sau: Năm 2006 anh Lê Văn T3 mua xe Wave màu xanh đen biển số 14P1-9069, đến năm 2010 đã bán xe cho người thu mua sắt vụn; anh Lưu Thế D1 mua xe Novo màu đen xám biển số 14T2-2428 vào năm 2009, năm 2020 bán xe cho người thu mua đồng nát; Chị Nguyễn Thị M mua xe Suzuki đỏ đen biển số 14T2-0342 năm 2008 và cũng đã bán xe này cho người thu mua sắt vụn năm 2020; Chị Trần Kim H1 mua xe Wave màu đỏ biển số 14T2-0966 vào năm 2008, đến khoảng năm 2018 chị bán xe cho một người không quen biết. Anh T3, anh D1, bà M, chị H1 đều xác định họ không bị mất xe cũng như biển số xe và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo pháp luật. Đối với biển số xe 14B1-01258 qua xác minh cơ quan điều tra xác định anh Nguyễn Minh D3 là chủ sở hữu; tuy nhiên anh D3 hiện nay không có ở địa phương nên không ghi được lời khai của anh. Trưng cầu giám định tại Phòng K Công an tỉnh Q xác định các biển số xe 14P1-9069; 14T2-0342; 14B1-01258; 14T2-0966 và 14P7-7213 đều là biển số giả.

Người làm chứng là Bùi Văn D2 và Trần Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ xác định: anh Bùi Văn D2 quen biết Trần Vũ C nên khi anh Vũ Đức T2 nhờ hỏi mua lại xe máy cũ để sử dụng thì anh D2 đã hỏi C có ai có xe máy cũ bán không. Đến ngày 26/7/2023 C nói có xe máy cũ hiệu Honda Airblade màu đỏ đen muốn bán với giá 6.000.000đ. Anh D2 bảo C gửi ảnh xe qua zalo rồi anh D2 chuyển cho anh T2 xem. Sau khi xem xe, anh T2 đồng ý mua xe nên anh D2 liên lạc với C để hai bên mua bán xe. Việc mua bán này anh D2 không được hưởng lợi cũng như không biết chiếc xe này là tài sản do C phạm tội mà có. Đến khoảng 8 giờ 30 ngày 27/7/2023 thì anh T2 gọi điện thông báo chiếc xe Cương bán cho T2 là xe do trộm cắp mà có và anh T2 nói sẽ giao nộp xe cho cơ quan công an. Chị Trần Thị Ly k: chị là vợ của Trần Vũ C, tuy nhiên chị và gia đình không biết C có hành vi trộm cắp xe máy, cũng không biết việc C cất giấu 05 biển số xe trong nhà.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Vũ C từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Phạm Ngọc T từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn N từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Trần Hưng T1 và Lê Thị S không có yêu cầu bồi thường dân sự, nên không xem xét giải quyết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Đức T2 anh Vũ Đức T2 yêu cầu bị cáo C, T1 và N phải trả lại cho anh số tiền 6.000.000đ mà anh đã mua xe, nên buộc mỗi bị cáo phải trả lại cho anh T2 số tiền 2.000.000đ. Anh Đinh Hữu H không yêu cầu bị cáo C, T1 phải trả lại anh số tiền 3.000.000đ mà anh đã mua xe. Tuy nhiên, đây là tiền do phạm tội mà có, nên cần phải truy thu của bị cáo T1 số tiền 2.000.000đ và của bị cáo C 1.000.000đ, để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản là chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng cho bị hại Trần Hưng T1, nên không đề cập xử lý. Đối với các vật chứng còn lại, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu LG K50S màu xanh gắn 02 sim 0357.581.800 và 0326.138.150 thu giữ của Trần Vũ C và 01 điện thoại di động hiệu Redmi NOTE 9S màu trắng gắn 02 sim 0356.244.595 và 0792.201.731 thu giữ của Phạm Ngọc T là công cụ bị cáo dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội (đối với 04 sim điện thoại tịch thu tiêu hủy). Đối với 05 biển số xe 14P1-9069; 14T2-0342; 14B1-01258; 14T2-0966 và 14P7-7213 thu giữ tại nhà Trần Vũ C; 02 cờ lê; 01 vật hình chữ T bằng kim loại; 01 áo khoác; 02 mũ lưỡi chai là đồ vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter MX màu đen gắn biển số 51F9-4497 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen gắn biển số 14H8-7657, đăng ký xe mang tên Trần Xuân S1, quá trình điều tra xác minh chưa rõ chủ sở hữu và ông S1 không nhận ông là chủ sở hữu xe mô tô biển số 14H8-7657, do đó cần giao lại cơ quan điều tra xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng là bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử, do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: khoảng 02 giờ ngày 10/7/2023, tại khu B, phường H, thành phố M, do có sự bàn bạc thống nhất với nhau từ trước, Phạm Ngọc T có hành vi trộm cắp của anh Trần Hưng T1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-trắng, biển số 37E1-182.08, trị giá 9.000.000₫ (Chín triệu đồng) rồi cùng với Trần Vũ C đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Tiếp đến, khoảng 13 giờ ngày 25/7/2023, tại khu B, phường T, thành phố M, Trần Vũ C, Phạm Ngọc T và Nguyễn Văn N có hành vi trộm cắp của chị Lê Thị S 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ-đen-bạc, biển số 14H8-7657, trị giá 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Tổng giá trị tài sản Trần Vũ C và Phạm Ngọc T mỗi người chiếm đoạt là 19.000.000₫ (Mười chín triệu đồng), Nguyễn Văn N chiếm đoạt tài sản trị giá 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Hành vi của các bị cáo Trần Vũ C, Phạm Ngọc T và Nguyễn Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, lấy giáo dục riêng để phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: đây là vụ án đồng phạm có tính giản đơn, trong đó cả ba bị cáo C, T và N đều chung ý chí chuẩn bị phương tiện, công cụ phạm tội, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp. Tuy nhiên C và T đã thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô 02 lần, cùng mang đi tiêu thụ nên giữ vai trò đầu và ngang nhau trong vụ án. Bị cáo Nguyễn Văn N thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô 01 lần nên giữ vai trò sau hai bị cáo C và T.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Trần Vũ C và Phạm Ngọc T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn N không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên các bị cáo trong vụ án này đều có nhân thân xấu; bị cáo C và bị cáo N đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Cướp tài sản” “Trộm cắp tài sản”; bị cáo T đã bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó là bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vì vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét trước khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ xe mô tô Yamaha Exciter, màu xanh-trắng trả lại cho người bị hại là anh Trần Tuấn H2. Đối với xe mô tô Honda Airblade, màu đỏ-đen-bạc, gắn biển số 14H8-7657, bị hại là chị Lê Thị S đang sử dụng thì bị các bị cáo trộm cắp, đến nay chưa rõ chủ sở hữu. Anh H2, chị S không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Đức T2 có yêu cầu các bị cáo phải trả cho anh số tiền 6.000.000đ mà anh bỏ ra mua xe máy của các bị cáo. Anh không biết nguồn gốc xe máy đó là do các bị cáo trộm cắp được mà có. Các bị cáo C, T và N đồng ý liên đới bồi thường cho anh T2 6.000.000đ; chia theo phần cho ba bị cáo, mỗi bị cáo bồi thường cho anh T2 là 2.000.000đ. Xét thấy thỏa thuận này không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đinh Hữu H không yêu cầu các bị cáo Phạm Ngọc T và Trần Vũ C phải trả lại cho anh số tiền 3.000.000₫ mà anh đã mua xe. Tuy nhiên, xét thấy số tiền 3.000.000đ mà bị cáo T và C có được do bán xe máy trộm cắp cho anh Đinh Hữu H, đây là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có, nên cần buộc các bị cáo T, C phải nộp lại sung ngân sách Nhà nước.

[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng, cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại Trần Hưng T1, nên không đề cập xử lý. Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu LG K50S màu xanh gắn 02 sim 0357.581.800 và 0326.138.150 thu giữ của Trần Vũ C và 01 điện thoại di động hiệu Redmi NOTE 9S màu trắng gắn 02 sim 0356.244.595 và 0792.201.731 thu giữ của Phạm Ngọc T là công cụ bị cáo dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước (đối với 04 sim điện thoại tịch thu tiêu hủy). 05 biển số xe 14P1-9069, 14T2-0342, 14B1-01258, 14T2-0966 và 14P7-7213 thu giữ tại nhà Trần Vũ C; 02 cờ lê, 01 vật hình chữ T bằng kim loại, 01 áo khoác, 02 mũ lưỡi chai là đồ vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter MX màu đen gắn biển số 51F9-4497 quá trình điều tra xác minh chưa rõ chủ sở hữu; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen gắn biển số 14H8-7657, đăng ký xe mang tên Trần Xuân S1, qua xác minh ông S1 không nhận ông là chủ sở hữu xe máy này. Xét thấy chủ sở hữu của hai xe mô tô nêu trên chưa được làm rõ do đó Hội đồng xét xử thấy cần giao lại cơ quan điều tra xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.

[8] Đối với các anh Vũ Đức T2 và Đinh Hữu H có hành vi mua xe mô tô, nhưng không biết là xe do phạm tội mà có, nên không cấu thành tội phạm, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[9] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Trần Vũ C, Phạm Ngọc T và Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trần Vũ C, Phạm Ngọc T và Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Vũ C 30 (ba mươi) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2023.

Áp dụng: 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 30 (ba mươi) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2023.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 21 (hai mươi mốt) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 587, 589, 357, khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự; Buộc ba bị cáo Trần Vũ C, Phạm Ngọc T và Nguyễn Văn N phải liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Vũ Đức T2, sinh năm 1990, nơi thường trú: khu G, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: khu E, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, tổng số tiền là 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Chia theo phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh T2 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Truy thu của bị cáo Phạm Ngọc T số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng); bị cáo Trần Vũ C số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: áp dụng dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • -Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu LG K50S màu xanh và 01 điện thoại di động hiệu Redmi NOTE 9S màu trắng.
  • - Tịch thu tiêu hủy 04 sim điện thoại: 0357.581.xxx; 0326.138.150; 0356.244.595 và 0792.201.731; 05 biển số xe: 14P1-9069; 14T2-0342; 14B1-01258; 14T2-0966 và 14P7-7213; 02 cờ lê; 01 vật hình chữ T bằng kim loại; 01 áo khoác; 02 mũ lưỡi chai;
  • - Giao lại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh: 01 xe mô tô Yamaha Jupiter MX màu đen gắn biển số 51F9-4497 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen gắn biển số 14H8-7657, để cơ quan điều tra xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.

Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35/2024/THA ngày 23/11/2023.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a, f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Trần Vũ C, Phạm Ngọc T và Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự trong án hình sự.

Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết tại nơi thường trú. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết tại nơi thường trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, NCQLNVLQ;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp Quảng Ninh;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - CQĐT Công an cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng câp;
  • - Cơ quan THAHS Công an cùng cấp;
  • - Bộ phận HSNV Công an cùng cấp;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 127/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do có sự bàn bạc từ trước, Trần Vũ C, Phạm Ngọc T, Nguyễn Văn N có hành vi trộm cắp 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha trị giá 9 triệu đồng; 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Airblade trị giá 10 triệu đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger