TỔNG QUAN VỀ THÔNG TƯ 25/2026/TT-BNV
Thông tư 25/2026/TT-BNV do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ. Văn bản này đưa ra các biện pháp tổ chức phong trào thi đua, quy trình khen thưởng đối với các cơ quan đặc thù, xử lý khen thưởng sau khi sắp xếp bộ máy, công nhận sáng kiến và quản lý hiện vật khen thưởng cấp Nhà nước.
1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1)
Thông tư này quy định các biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành các nội dung cốt lõi bao gồm:
- Quy định chung về công tác thi đua, khen thưởng.
- Tuyến trình khen thưởng đối với cơ quan đảng, đoàn thể, Hội đồng nhân dân các cấp và các tổ chức tôn giáo.
- Việc khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị.
- Quy trình công nhận hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến và phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
- Thủ tục tiếp nhận hồ sơ đề nghị khen thưởng; cấp phát, cấp đổi, cấp lại và chuẩn bị hiện vật khen thưởng.
2. Quy định chung về thi đua, khen thưởng (Điều 2)
Điều khoản này hướng dẫn chi tiết việc áp dụng các hình thức khen thưởng trong các trường hợp cụ thể:
- Khen thưởng đột xuất: Người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh khen thưởng theo thẩm quyền cho cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xuất sắc đột xuất. Trường hợp thành tích có phạm vi ảnh hưởng lớn trong toàn ngành, toàn tỉnh hoặc toàn quốc thì đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước.
- Khen thưởng sơ kết, tổng kết phong trào thi đua:
- Bộ, ban, ngành, tỉnh không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước cho tập thể, cá nhân không thuộc quyền quản lý trực tiếp (trừ các trường hợp ngoại lệ theo Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg).
- Đối với phong trào thi đua từ 03 năm trở lên: Lựa chọn cá nhân, tập thể, hộ gia đình tiêu biểu đề nghị tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
- Đối với phong trào thi đua từ 05 năm trở lên: Lựa chọn đối tượng xuất sắc tiêu biểu đề nghị Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba hoặc Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba.
- Khen thưởng hội nghị, hội thảo, tổng kết luật: Thực hiện khen thưởng theo thẩm quyền của Bộ, ban, ngành, tỉnh; không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước, trừ trường hợp phục vụ nhiệm vụ chính trị đặc biệt theo chỉ đạo trực tiếp của Lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.
- Bình xét danh hiệu "Lao động tiên tiến", "Chiến sĩ tiên tiến":
- Cá nhân bị thương tích trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc dũng cảm cứu người, cứu tài sản dẫn đến phải điều trị, điều dưỡng thì thời gian này vẫn được tính để bình xét.
- Cá nhân đi học, bồi dưỡng ngắn hạn dưới 01 năm được tính thời gian công tác bình thường. Nếu đi học từ 01 năm trở lên, phải chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, hoàn thành nhiệm vụ và đạt kết quả học tập từ loại khá trở lên (hoặc được cấp chứng nhận hoàn thành).
- Cá nhân chuyển công tác hoặc được biệt phái: Do cơ quan mới đánh giá, xếp loại. Nếu thời gian công tác ở cơ quan cũ từ 06 tháng trở lên thì phải lấy ý kiến nhận xét bằng văn bản của cơ quan cũ.
- Không xét tặng danh hiệu đối với cá nhân mới tuyển dụng dưới 06 tháng.
3. Hình thức và nội dung tổ chức phong trào thi đua (Điều 3, Điều 4 & Điều 5)
Công tác tổ chức phong trào thi đua được chuẩn hóa qua các quy định sau:
- Hình thức thi đua:
- Thi đua thường xuyên: Tổ chức theo khối, cụm thi đua dựa trên chức năng, nhiệm vụ được giao. Cuối năm tiến hành tổng kết, ký giao ước và bình xét danh hiệu.
- Thi đua theo chuyên đề: Tập trung giải quyết nhiệm vụ trọng tâm hoặc lĩnh vực cần đột phá trong một khoảng thời gian xác định, phải có mục tiêu, giải pháp và tiêu chí đánh giá rõ ràng.
- Nội dung tổ chức: Phong trào thi đua phải có chủ đề thiết thực, dễ nhớ, dễ hiểu. Chú trọng công tác chỉ đạo điểm đối với phong trào kéo dài từ 03 năm trở lên. Khi tổng kết phải đánh giá khách quan, công khai, minh bạch; ưu tiên khen thưởng người lao động trực tiếp, nông dân, công nhân, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật và cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
- Trách nhiệm triển khai: Người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương chủ trì phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để phát động phong trào. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong theo dõi, đánh giá thi đua. Các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm tuyên truyền, biểu dương các điển hình tiên tiến và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng.
4. Tặng Cờ thi đua và Bằng khen trong cụm, khối thi đua (Điều 6)
Việc tặng thưởng đối với các tập thể tham gia cụm, khối thi đua được quy định cụ thể:
- Bộ, ban, ngành, tỉnh căn cứ tình hình thực tế để tổ chức các cụm, khối thi đua một cách khoa học, hiệu quả.
- Cờ thi đua cấp Bộ, ban, ngành, tỉnh được tặng cho tập thể tiêu biểu xuất sắc dẫn đầu cụm, khối thi đua.
- Không tặng Cờ thi đua cấp Bộ, ban, ngành, tỉnh cho tập thể đã được đề nghị tặng "Cờ thi đua của Chính phủ". Trường hợp tập thể bị từ chối tặng "Cờ thi đua của Chính phủ" do chưa bảo đảm tiêu chuẩn hoặc thủ tục, Bộ, ban, ngành, tỉnh có thể xem xét tặng Cờ thi đua cấp mình theo quy định chung.
5. Tuyến trình khen thưởng đối với các tổ chức đặc thù (Điều 7)
Thông tư phân định rõ thẩm quyền và quy trình khen thưởng đối với các khối cơ quan Đảng, đoàn thể, Hội đồng nhân dân và tổ chức tôn giáo:
- Cơ quan Đảng, đoàn thể chuyên trách: Nguyên tắc chung là cấp nào trực tiếp quản lý về tổ chức, cán bộ và quỹ lương thì cấp đó xét, quyết định khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng. Riêng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có thẩm quyền khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng cho các đơn vị, doanh nghiệp, cán bộ công đoàn chuyên trách thuộc hệ thống của mình.
- Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp:
- HĐND cấp tỉnh: Các chức danh chuyên trách (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các Ban, đại biểu chuyên trách) do Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh tổng hợp hồ sơ, trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng. Đại biểu kiêm nhiệm do cơ quan quản lý gốc (nơi trả lương) thực hiện bình xét.
- HĐND cấp xã: Việc khen thưởng các chức danh chuyên trách và kiêm nhiệm tuân thủ nguyên tắc quản lý cán bộ và quỹ lương của cấp có thẩm quyền.
- Tổ chức tôn giáo: Cá nhân, tập thể thuộc Trung ương các giáo hội do cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) trình Thủ tướng Chính phủ. Đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Chủ tịch UBND cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ.
6. Khen thưởng sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy (Điều 8)
Khi thực hiện tinh gọn, sắp xếp bộ máy trong hệ thống chính trị, việc khen thưởng được xử lý như sau:
- Cơ quan, đơn vị chia tách, sáp nhập: Cơ quan tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ mới chịu trách nhiệm khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng.
- Trường hợp tiếp nhận một phần chức năng: Mốc thời gian tính thành tích và tiêu chuẩn khen thưởng được tính theo cơ quan tiếp nhận.
- Đối với cơ quan hình thành sau sắp xếp:
- Danh hiệu thi đua: Thành tích tính thi đua bao gồm kết quả thực hiện chỉ tiêu của các tập thể trước và sau khi sắp xếp.
- Khen thưởng: Mốc thời gian tính thành tích và tiêu chuẩn khen thưởng được tính theo thành tích của tập thể có hình thức khen thưởng cao nhất trước khi sắp xếp.
- Không thực hiện khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng đối với các cơ quan, tổ chức đã giải thể và chấm dứt hoạt động hoàn toàn.
7. Công nhận sáng kiến và nhiệm vụ khoa học, công nghệ (Điều 9)
Sáng kiến và đề tài khoa học là căn cứ quan trọng để xét tặng các danh hiệu thi đua cao quý:
- Thẩm quyền công nhận: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét, công nhận bằng văn bản về hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến hoặc phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
- Đối tượng ghi nhận đề tài khoa học: Bao gồm Chủ nhiệm, thư ký và các thành viên chính trực tiếp tham gia nghiên cứu.
- Mối liên hệ với danh hiệu thi đua:
- Phạm vi ảnh hưởng trong nội bộ cơ quan, đơn vị: Làm căn cứ xét tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cơ sở".
- Phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh: Làm căn cứ xét tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, ban, ngành, tỉnh".
- Phạm vi ảnh hưởng toàn quốc: Làm căn cứ xét tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua toàn quốc".
8. Thủ tục hành chính, hiện vật khen thưởng và hiệu lực thi hành (Điều 10, Điều 11 & Điều 12)
- Tiếp nhận hồ sơ: Hồ sơ đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước của các Bộ, ban, ngành, tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phải gửi về Bộ Nội vụ (thông qua Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương).
- Quản lý hiện vật: Hồ sơ đề nghị cấp đổi, cấp lại hiện vật khen thưởng cấp Nhà nước bị hư hỏng, thất lạc gửi về Bộ Nội vụ để xử lý. Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương chịu trách nhiệm mua sắm, bảo quản và cấp phát hiện vật khen thưởng cấp Nhà nước.
- Hiệu lực thi hành: Thông tư 25/2026/TT-BNV chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.
- Thay thế văn bản: Thông tư này thay thế hoàn toàn Thông tư số 15/2025/TT-BNV ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Nghị định số 152/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ.
- Trách nhiệm thi hành: Thủ trưởng các Bộ, ban, ngành Trung ương và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành. Mọi vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện phải kịp thời phản ánh về Bộ Nội vụ để được hướng dẫn, giải quyết.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NỘI VỤ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 25/2026/TT-BNV | Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2026 |
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC, HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 368/2026/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 9 NĂM 2026 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC, HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
Căn cứ Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 06/2026/QH16 ngày 23 tháng 4 năm 2026;
Căn cứ Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng;
Căn cứ Nghị định số 276/2026/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 2026 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ;
Theo đề nghị của Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương;
Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ về: Quy định chung về thi đua, khen thưởng; tuyến trình khen thưởng đối với cơ quan đảng, đoàn thể, Hội đồng nhân dân, các tổ chức tôn giáo; việc khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị; công nhận hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến, phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tiếp nhận hồ sơ đề nghị khen thưởng, cấp phát, cấp đổi, cấp lại hiện vật khen thưởng; chuẩn bị hiện vật khen thưởng.
Điều 2. Quy định chung về thi đua, khen thưởng
1. Đối với cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xuất sắc đột xuất thì người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh khen thưởng theo thẩm quyền. Trường hợp thành tích tiêu biểu xuất sắc, có phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh hoặc lĩnh vực thuộc Bộ, ban, ngành, tỉnh quản lý hoặc phạm vi toàn quốc thì Bộ, ban, ngành, tỉnh có trách nhiệm đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước theo tiêu chuẩn quy định.
2. Khen thưởng khi sơ kết, tổng kết phong trào thi đua do Bộ, ban, ngành, tỉnh phát động.
Người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh thực hiện việc khen thưởng theo thẩm quyền. Bộ, ban, ngành, tỉnh không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước cho tập thể, cá nhân không thuộc quyền quản lý (trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 3 Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng).
Đối với sơ kết, tổng kết phong trào thi đua có thời gian từ 03 năm trở lên, Bộ, ban, ngành, tỉnh lựa chọn cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích tiêu biểu đề nghị tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với sơ kết, tổng kết phong trào thi đua có thời gian từ 05 năm trở lên, Bộ, ban, ngành, tỉnh lựa chọn cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc tiêu biểu đề nghị Thủ tướng Chính phủ xét trình Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba hoặc Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba (đối với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an).
3. Khi Bộ, ban, ngành, tỉnh tiến hành sơ kết, tổng kết việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị định hoặc phục vụ hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế, khu vực... thì thực hiện khen thưởng theo thẩm quyền, không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước, trừ thành tích phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước theo chỉ đạo của các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước.
4. Việc bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” trong một số trường hợp cụ thể được thực hiện như sau:
a) Cá nhân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc có hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của Nhân dân dẫn đến bị thương tích cần điều trị, điều dưỡng theo kết luận của bệnh viện hoặc Trung tâm y tế khu vực trở lên thì thời gian điều trị, điều dưỡng được tính để bình xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”;
b) Cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn dưới 01 năm, chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thì thời gian học tập được tính vào thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị để được bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”.
Trường hợp cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng từ 01 năm trở lên thì thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng được tính vào thời gian để bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”. Ngoài các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định chung, trong thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng, cá nhân phải chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, hoàn thành nhiệm vụ học tập, đạt kết quả học tập từ loại khá trở lên (đối với khóa đào tạo, bồi dưỡng có đánh giá, xếp loại kết quả học tập) hoặc được cơ sở đào tạo cấp chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng (đối với các khóa đào tạo, bồi dưỡng không tổ chức đánh giá, xếp loại);
c) Đối với cá nhân chuyển công tác hoặc được điều động, biệt phái đến cơ quan, tổ chức, đơn vị khác trong một thời gian nhất định thì việc bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” do cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ (đối với cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức) hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị mới (đối với cá nhân không phải là cán bộ, công chức, viên chức) thực hiện. Trường hợp có thời gian công tác ở cơ quan cũ từ 06 tháng trở lên phải có ý kiến nhận xét của cơ quan cũ;
d) Không xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” đối với cá nhân mới tuyển dụng dưới 06 tháng.
Điều 3. Hình thức tổ chức thi đua
1. Thi đua thường xuyên là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động, nhằm thực hiện tốt công việc thường xuyên của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng nhau được chia theo khối thi đua, cụm thi đua.
Việc tổ chức phong trào thi đua thường xuyên phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, mục tiêu, các chỉ tiêu cụ thể và được triển khai thực hiện tại cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc theo cụm, khối thi đua để phát động phong trào thi đua, ký kết giao ước thi đua. Kết thúc năm công tác, thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị, trưởng các cụm thi đua, khối thi đua tiến hành tổ chức tổng kết và bình xét các danh hiệu thi đua.
2. Thi đua theo chuyên đề là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm hoặc một lĩnh vực cần tập trung được xác định hoàn thành trong khoảng thời gian nhất định. Việc phát động thi đua theo chuyên đề phải xác định rõ thời gian thực hiện, mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp tổ chức thực hiện và tiêu chí đánh giá kết quả; bảo đảm tính thiết thực, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tiễn của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Điều 4. Nội dung tổ chức phong trào thi đua
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương có trách nhiệm triển khai tổ chức phong trào thi đua trong phạm vi quản lý theo một số nội dung sau:
1. Tổ chức phong trào thi đua gắn với chức năng, nhiệm vụ được giao hoặc mục tiêu, định hướng, chiến lược phát triển của cơ quan, đơn vị, tổ chức. Phong trào thi đua phải có chủ đề, tên gọi dễ nhớ, dễ hiểu, có chỉ tiêu, nội dung, kế hoạch, phương pháp thi đua cụ thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện, khả năng tham gia của cá nhân, tập thể, hộ gia đình.
2. Triển khai nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động cá nhân, tập thể, hộ gia đình tích cực hưởng ứng, tham gia các phong trào thi đua. Thường xuyên đôn đốc, theo dõi quá trình tổ chức thực hiện; chú trọng công tác chỉ đạo điểm, hướng dẫn, kiểm tra đối với phong trào thi đua có thời gian thực hiện từ 03 năm trở lên; phát hiện nhân tố mới, điển hình tiên tiến để tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng. Sơ kết, tổng kết, khen thưởng các cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích trong phong trào thi đua. Tăng cường phổ biến các sáng kiến, kinh nghiệm, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả để cá nhân, tập thể, hộ gia đình khác học tập và làm theo.
3. Tổng kết phong trào thi đua phải đánh giá đúng kết quả, hiệu quả, tác dụng; tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức phong trào thi đua. Việc bình xét, quyết định tặng danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng phải đảm bảo nguyên tắc chính xác, công khai, minh bạch, công bằng; kịp thời khen thưởng các cá nhân, tập thể, hộ gia đình tiêu biểu xuất sắc. Khuyến khích khen thưởng cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, kinh doanh, ngư dân, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nông dân, công nhân, người yếu thế, khuyết tật; cá nhân, tập thể có thành tích tiêu biểu xuất sắc trong lao động, sản xuất, học tập, công tác; cán bộ, công chức, viên chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.
Điều 5. Triển khai tổ chức phong trào thi đua
1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, lãnh đạo ban, ngành, cơ quan, tổ chức ở Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, lãnh đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị chủ trì, phối hợp với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ và các hội khác cùng cấp để tổ chức phát động, chỉ đạo tổ chức triển khai phong trào thi đua trong phạm vi quản lý; chủ động phát hiện, lựa chọn các cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xứng đáng để khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng; tuyên truyền, tôn vinh, nhân rộng các điển hình tiên tiến và tạo điều kiện để cá nhân, tập thể, hộ gia đình được khen thưởng cấp Nhà nước được trao đổi, giao lưu, phổ biến kinh nghiệm, nhân rộng những sáng kiến, mô hình hay, sáng tạo, cách làm hiệu quả; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phát động, tuyên truyền, theo dõi, đánh giá kết quả phong trào thi đua.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm phối hợp tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước; tham gia phát hiện, giới thiệu, nhân rộng điển hình tiên tiến; tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thi đua, khen thưởng.
3. Cơ quan, tổ chức, đơn vị tham mưu, giúp việc về công tác thi đua, khen thưởng các cấp, các ngành căn cứ vào nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, 05 năm và nhiệm vụ chính trị được giao của cơ quan, tổ chức, đơn vị cùng cấp để tham mưu, đề xuất với cấp ủy đảng, chính quyền về chủ trương, nội dung, chương trình, kế hoạch, biện pháp thi đua; đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào thi đua; chủ động phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát đối với việc tổ chức các phong trào thi đua; tham mưu sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua, nhân rộng các điển hình tiên tiến; đề xuất khen thưởng và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng.
4. Cơ quan thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; vị trí vai trò, tầm quan trọng của thi đua yêu nước trong sự nghiệp cách mạng; đẩy mạnh tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước; phản ánh đúng kết quả, bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, những đổi mới trong công tác thi đua, khen thưởng của các Bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị; phát hiện các cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua; biểu dương, tôn vinh, nêu gương các điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt; đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Điều 6. Việc tặng cờ thi đua, Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh đối với các tập thể tham gia cụm thi đua, khối thi đua
1. Bộ, ban, ngành, tỉnh căn cứ quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và tình hình thực tiễn của Bộ, ban, ngành, tỉnh để tổ chức cụm thi đua, khối thi đua cho phù hợp, khoa học, hiệu quả; xem xét, tặng Cờ thi đua và Bằng khen đối với các tập thể tham gia cụm thi đua, khối thi đua.
2. Bộ, ban, ngành, tỉnh xem xét, quyết định tặng cờ thi đua của Bộ, ban, ngành, tỉnh cho tập thể có thành tích tiêu biểu xuất sắc, dẫn đầu cụm thi đua, khối thi đua do Bộ, ban, ngành, tỉnh tổ chức, không tặng cờ thi đua của Bộ, ban, ngành, tỉnh đối với tập thể được đề nghị tặng “Cờ thi đua của Chính phủ”. Trường hợp tập thể đã đề nghị tặng “Cờ thi đua của Chính phủ” nhưng không được xét tặng do chưa đảm bảo tiêu chuẩn, hồ sơ, thủ tục tặng “Cờ thi đua của Chính phủ” thì Bộ, ban, ngành, tỉnh xem xét, quyết định tặng cờ thi đua của Bộ, ban, ngành, tỉnh theo quy định chung.
Điều 7. Khen thưởng cá nhân, tập thể thuộc cơ quan đảng, đoàn thể; Hội đồng nhân dân các cấp; các tổ chức tôn giáo
1. Cá nhân, tập thể làm chuyên trách công tác đảng, đoàn thể: Cấp nào quản lý trực tiếp về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và quỹ lương thì cấp đó xét, quyết định khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng.
a) Cá nhân, tập thể chuyên trách công tác đảng, đoàn thể ở các Bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương thì nơi trực tiếp quản lý cán bộ, công chức và quỹ lương xét, quyết định khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng;
b) Cá nhân, tập thể chuyên trách công tác đảng, đoàn thể thuộc cấp tỉnh, do cơ quan đảng, đoàn thể trực tiếp quản lý xét, đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng;
c) Cá nhân, tập thể chuyên trách công tác đảng, đoàn thể thuộc cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã khen thưởng hoặc trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng;
d) Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng đối với: các ban, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp thuộc hệ thống công đoàn và cán bộ, đoàn viên, người lao động thuộc các đơn vị này; Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; công đoàn ngành Trung ương và tương đương; công đoàn tập đoàn kinh tế, tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn trực thuộc; cán bộ công đoàn chuyên trách hưởng lương từ tài chính công đoàn.
2. Việc khen thưởng trong Hội đồng nhân dân các cấp
a) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách do Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổng hợp hồ sơ, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng. Đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động kiêm nhiệm được thực hiện theo nguyên tắc cấp nào quản lý về tổ chức, cán bộ, quỹ lương thì cấp đó có trách nhiệm xét, quyết định khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng;
b) Hội đồng nhân dân cấp xã: Việc khen thưởng đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách, đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động kiêm nhiệm được thực hiện theo nguyên tắc cấp nào quản lý về tổ chức, cán bộ, quỹ lương cấp đó có trách nhiệm xét, khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng.
3. Khen thưởng cá nhân, tập thể thuộc các tổ chức tôn giáo
a) Việc khen thưởng cá nhân, tập thể thuộc trung ương các giáo hội do cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) trình Thủ tướng Chính phủ;
b) Cá nhân, tập thể thuộc giáo hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ.
Điều 8. Trách nhiệm khen thưởng và đề nghị khen thưởng; thời gian tính thành tích khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị
1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị chia tách, sáp nhập thì cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng.
2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận một phần chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị khác thì mốc thời gian tính thành tích và tiêu chuẩn khen thưởng được tính theo cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận.
3. Cơ quan, tổ chức, đơn vị hình thành sau sắp xếp tổ chức bộ máy, việc xét tặng danh hiệu thi đua và khen thưởng thực hiện như sau:
a) Đối với danh hiệu thi đua: Thành tích tính thi đua bao gồm kết quả thực hiện chỉ tiêu thi đua của các tập thể trước và sau khi sắp xếp;
b) Đối với khen thưởng: Mốc thời gian tính thành tích và tiêu chuẩn khen thưởng được tính theo thành tích của tập thể có hình thức khen thưởng cao nhất.
4. Không khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị đã giải thể và chấm dứt hoạt động sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị.
Điều 9. Về công nhận hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến; hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để làm căn cứ xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng
1. Việc xét công nhận sáng kiến thực hiện theo quy định của pháp luật về sáng kiến.
2. Việc đánh giá, công nhận hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến để làm căn cứ xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét, công nhận bằng văn bản.
3. Việc đánh giá hiệu quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Cá nhân được công nhận có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để làm căn cứ xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng là Chủ nhiệm, thư ký và thành viên chính tham gia nghiên cứu nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Việc xét công nhận phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét, công nhận bằng văn bản.
4. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền căn cứ hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến, phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để xét, tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua các cấp cho cá nhân theo quy định. Sáng kiến hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng hoặc nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có phạm vi ảnh hưởng trong cơ quan, đơn vị thì đề nghị xét, tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”; Sáng kiến có hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng hoặc nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh thì xét, tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, ban, ngành, tỉnh; Sáng kiến có hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng hoặc nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quốc thì đề nghị xét, tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua toàn quốc".
5. Căn cứ quy định về đối tượng, tiêu chuẩn, thành tích đạt được và hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến hoặc phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng các hình thức theo tiêu chuẩn có sáng kiến hoặc nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điều 10. Trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đề nghị khen thưởng; cấp phát, cấp đổi, cấp lại hiện vật khen thưởng; chuẩn bị hiện vật khen thưởng và nhiệm vụ thi đua, khen thưởng khác
1. Hồ sơ đề nghị khen thưởng của Bộ, ban, ngành, tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại khoản 9 và khoản 11 Điều 30 của Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Luật Thi đua, khen thưởng gửi về Bộ Nội vụ (qua Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương) để thực hiện theo quy định.
2. Hồ sơ đề nghị cấp đổi, cấp lại hiện vật khen thưởng cấp Nhà nước gửi về Bộ Nội vụ (qua Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương) để thực hiện theo quy định.
Bộ Nội vụ (Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương) có trách nhiệm mua sắm, bảo quản và cấp phát hiện vật khen thưởng cấp Nhà nước theo quy định.
3. Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương tham mưu, giúp Bộ Nội vụ thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương theo quy định tại khoản 5 Điều 44 của Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Luật Thi đua, khen thưởng.
Điều 11. Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2026 và thay thế Thông tư số 15/2025/TT-BNV ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 152/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.
Điều 12. Điều khoản thi hành
1. Thủ trưởng các Bộ, ban, ngành Trung ương; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Nội vụ để được hướng dẫn./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
Thông tư 25/2026/TT-BNV hướng dẫn Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định 368/2026/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- Số hiệu: 25/2026/TT-BNV
- Loại văn bản:
- Ngày ban hành: 01/10/2026
- Nơi ban hành:
- Người ký:
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/10/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
